Thứ Năm, 25 tháng 7, 2013

shop hoa tươi biên hòa , shop hoa biên hòa , shop hoa ở tại biên hòa

ĐỊA ĐIỂM BÁN HOA TƯƠI
ĐC: 436 đường Cách Mạng Tháng 8, phường Quang Vinh, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
      3/45 Nguyễn Ái Quốc , KP.8 Biên Hòa, Đồng Nai
 HOTLINE : 0917.203099 - 0913.142434

Điện hoa là chiếc cầu nối giúp bạn và đối tác, khách hàng, bạn bè… đến gần nhau hơn. Điều đó sẽ giúp cho mối quan hệ của bạn rộng hơn, công việc kinh doanh thuận lợi hơn. Hãy để dịch vụ điện hoa hân hạnh được thay bạn thiết kế những mẫu hoa chúc mừng đầy ý nghĩa, đầy màu sắc và điện hoa đến nơi mà bạn yêu cầu.
Đối tác của bạn khai trương một chi nhánh mới, bạn bè đến ngày sinh nhật, người thân chuẩn bị tân gia…và cho dù bạn ở nơi đâu, cho dù bạn bận rộn với trăm công nghìn việc. Bạn chỉ cần truy cập vào  dịch vụ điện hoa thì những lẵng hoa chúc mừng nhiều màu sắc sáng rực sẽ thay bạn chuyển tải thông điệp yêu thương.
Sản Phẩm: hoa chúc mừng khai trương nhiều màu sắc được tạo thành từ hoa hồng đỏ và đồng tiền vàng. Lẵng hoa tươi hai tầng với hai gam màu vàng và đỏ có ý nghĩa phát tài và thịnh vượng. Tầng trên của lẵng hoa tươi cắm toàn bộ hoa hồng đỏ, dưới chân là một đôn hoa nhỏ bao gồm đồng tiền vàng.
Giá hoa chúc mừng khai trương:
Kệ hoa chúc mừng khai trương: 950,000 VND với kích thước cao 1,0m
Kệ hoa chúc mừng khai trương: 1,680,000 VND với kích thước cao 1,4m
Kệ hoa chúc mừng khai trương: 2,480,000 VND với kích thước cao 2,0m
 Một năm 365 ngày, có rất nhiều ngày đặc biệt để chúng ta bày tỏ yêu thương đến người thân, bạn bè, đối tác, khách hàng..... Thật tuyệt vời khi vào ngày sinh nhật nhận được một giỏ hoa chúc mừng sinh nhật, và sẽ rất hạnh phúc khi được người yêu gửi món quà bất ngờ vào ngày 14/2...và càng hạnh phúc hơn khi những bó hoa tươi  được thiết kế cẩn thận, tỉ mỉ.
Hiểu được tâm lý khách hàng nên dịch vụ điện hoa luôn trao dồi và sáng tạo ra những giỏ hoa tươi chúc mừng nghệ thuật, sang trọng và đầy ý nghĩa.
Sản phẩm: Bó hoa tươi gồm hoa hồng phấn bó tròn, quý khách có thể chọn hoa khác như hoa hồng đỏ, hồng vàng. Bó hoa tươi chúc mừng này có thể được chọn làm hoa chúc mừng sinh nhật, hoa chúc mừng 8/3,hoa chúc mừng 14/2, hoa chúc mừng ngày của mẹ...
Giá hoa chúc mừng: 1,800,000VND gồm 99 cành hồng .
Giá hoa chúc mừng: 3,800,000 VND gồm 199 cành hồng.
Giá hoa chúc mừng: 19,000,000VND gốm 1000 cành hồng.
Dịch vụ điện hoa: Công ty chúng tôi nhận điện hoa 63/63 tỉnh thành trên toàn quốc và hiện tại chúng tôi đã mở rộng quy mô điện hoa ở các tuyến huyện

shop hoa tươi Biên Hòa , shop hoa biên hòa , shop hoa ở tại biên hòa

shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT026
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT026
1.280.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT027
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT027
1.280.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT028
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT028
780.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT029
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT029
1.480.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT030
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT030
1.180.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT031
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT031
1.280.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM051
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM051
1.280.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM050
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM050
1.180.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM049
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM049
1.200.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM048
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM048
1.380.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM047
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM047
1.000.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM046
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM046
980.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM045
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM045
750.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM044
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM044
1.540.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM043
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM043
1.250.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM042
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM042
950.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM041
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM041
900.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM040
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM040
1.350.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM039
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM039
850.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM038
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM038
1.350.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM037
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM037
1.480.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM036
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM036
800.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM035
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM035
1.180.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM033
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM033
1.400.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT001
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT001
1.580.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT002
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT002
980.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT004
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT004
780.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT003
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT003
2.580.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT005
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT005
1.080.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT006
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT006
1.280.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT007
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT007
780.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT008
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT008
680.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT009
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT009
980.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT010
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT010
1.180.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT011
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT011
1.580.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT012
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT012
1.280.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT013
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT013
1.580.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT014
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT014
1.580.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT015
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT015
1.780.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT016
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT016
1.680.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT017
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT017
1.280.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT019
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT019
980.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT020
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT020
1.380.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT021
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT021
880.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT022
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT022
1.380.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT023
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT023
980.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT024
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT024
880.000 VND
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT025
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT025
1.380.000 VND
Trang trước 1 2 3 4 5 Trang tiếp
s

Thời đại kim khí ở Đồng Nai - Phần III

Số lượng di tích thuộc giai đoạn này được định vị khá nhiều: 91 điểm, theo địa giới huyện - thành hiện tại, phân bố nhiều nhất ở Vĩnh Cửu - Thống Nhất (30 điểm) và Xuân Lộc - Long Khánh (18 điểm). Ngoài ra, Biên Hòa (8 điểm), Tân Phú - Định Quán (16 điểm) và Long Thành - Nhơn Trạch (18 điểm).Tuy nhiên, hiện tại việc khai quật và thám sát trên qui mô lớn còn rất ít. Ở đây, chỉ giới thiệu những di tích được nghiên cứu tốt nhất và chứa đựng những di tích văn hóa cổ được xem là đặc sắc nhất thuộc giai đoạn lịch sử quan trọng này.- Tại vùng đồi đất đỏ basalte thuộc địa phận Xuân Lộc - Long Khánh, cư dân Đồng Nai thời kỳ sau Cầu Sắt nối tiếp truyền thống lập làng trên sườn đồi - gò đất đỏ màu mỡ và thoáng mát ven bờ sông suối có nước chảy quanh năm, với những khu vực quần cư lớn, qui tụ nhiều di chỉ cư trú, mà dấu tích hiện còn cho phép xác lập qui mô từng làng không thua diện tích một làng Việt hiện tại: 1 - 2 ha. Trong khu vực đồn điền cao su Hàng Gòn xưa, E. Saurin từng khám phá nhiều di chỉ “làng” như vậy chỉ trong phạm vi 10 km2, với những dấu tích văn hóa cổ thu được khá giống nhau như cuốc, rìu - bôn hay đục tứ giác hoặc có vai, bàn mài, công cụ có lưỡi hay mũi nhọn, mảnh tước, thẻ đeo dạng bùa, vòng trang sức đá, đạn gốm hay mảnh nồi vò, cốc, bát bồng, nắp vung... Quan trọng nhất trong cụm di chỉ này là Núi Gốm (hay Hàng Gòn 1).Núi Gốm (12004’00’’B - 106051’08’’ Đ) thuộc địa phận lô 72 - Công ty cao su Xuân Lộc, xã Xuân Tân, huyện Xuân Lộc (nay là huyện Long Khánh), cách thị trấn Xuân Lộc gần 10 km, do L. Malleret phát hiện khi quả đồi đất đỏ nằm kẹp giữa suối Râm và suối Sâu này bị san ủi trồng cao su vào năm 1960. Sau đó, E. Saurin điều tra ghi nhận dấu tích văn hóa cổ trải rộng 350 x 150 m trên sườn cao 250 m và khai quật khẩn cấp ở trung tâm đồi. Ông thu được 6 rìu tứ giác hay có vai và phế vật, 1 nạo, 1 công cụ hình nêm, 1 bàn nghiền, 1 chày nghiền, 11 bàn mài có rãnh và 4 khuôn đúc sa thạch để đúc rìu hay kim găm có vòng chuôi. Gốm ở đây được nung cứng chắc, có lớp áo mịn màu nâu đỏ, thường là mảnh của nồi, đĩa, bát, tô. Tác giả so sánh di vật Núi Gốm với Mlu Prey, Somrong Sen (Campuchia), Trấn Ninh (Lào), Sa Huỳnh và Đông Sơn, và đem phân tích một mẫu gốm trộn bã thực vật cháy thành than ở Trung tâm nghiên cứu hạt nhân Saclay thu kết quả niên đại: 3950 ± 250 năm cách nay. Sau 1975, cán bộ Bảo tàng Đồng  Nai, Trung tâm KCH - Viện KCHVN và một số nhà khoa học Nhật Bản đã phúc tra nhiều lần Núi Gốm, thu thêm nhiều cổ vật đá (3 khuôn đúc rìu nguyên và bán thành phẩm, 8 rìu bôn tứ giác hay có vai, 1 đục, 1 dao, 2 bàn mài rãnh), 1 chì lưới bằng đất nung, 4 đạn gốm cùng một số mảnh của vò, bình hay đĩa nhỏ miệng loe rộng. Một số nhà nghiên cứu cho niên đại của Hàng Gòn 1 chỉ khoảng 3.000 năm khi so sánh khuôn đúc và gốm ở đây với Dầu Giây 1 hay Hàng Gòn 9; nhiều người khác lại ủng hộ niên đại cổ kính mà E. Saurin đã khẳng định.Ngoài cụm di tích Hàng Gòn, trong vùng Xuân Lộc - Long Khánh còn ghi nhận cụm di chỉ xung quanh Cầu Sắt, thuộc địa phận Xuân Phú - Xuân Bình - Xuân Trường (Bình Xuân, Đồi Mít, Đồi Xoài, Dầu Giây 3, Tân Lập, Lập Thành, Sông Nhạn...). Phạm vi ở từng điểm di tích có khi dàn trải hầu khắp sườn đồi dốc thoải ven suối tới 1 - 3 ha (như suối Ba Gió ở Đồi Xoài, suối Kỳ Đà  ở Đồi Mít) nhưng tích tụ không dày. Đáng kể nhất là tầng văn hóa trong 3 hố thám sát của Bảo tàng Đồng Nai, Trung tâm KCH và Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam từ 5 - 1979 ở Đồi Mít (Xuân Bình) sâu tới 1,25 - 1,4m. Ngay trên mặt các di chỉ, các nhà khảo cổ học và bảo tàng học đã thu lượm được khá nhiều vật dụng bằng đá - gốm quen thuộc của vùng này: 97 đồ đá với 64 cuốc, 3 đục, 27 bàn mài, 2 chày nghiền, 1 thẻ đeo và nhiều mảnh tước ở Đồi Mít; 65 đồ đá với 52 rìu bôn, 2 lưỡi mài có vai rất lớn, 5 đục, 4 dao hái và phế vật ở Bình Xuân; 3 rìu vai và tứ giác, 2 đục, 1 bàn nghiền ở Đồi Xoài; 6 cuốc - rìu bôn ở sông Nhạn, với nhiều mảnh vỡ của đồ dựng đặc trưng của người Đồng Nai. Niên đại chung cho toàn nhóm di tích này được ước đoán vào nửa đầu TNK II tr.CN.- Trong địa phận liên huyện Tân Phú - Định Quán, các di chỉ khảo cổ phát hiện dọc 2 bờ Đồng Nai hoặc ven các dòng suối nhỏ (Lu, Rộp, Nhàn, Tre, Bưng...) thuộc thung lũng ở giữa những vành cung núi đồi đất đỏ basalte thuộc khu vực lòng hồ thủy điện Trị An nay đã bị ngập nước. Tại 11 địa điểm, các nhà khảo cổ học và bảo tàng học thu được 21 bôn rìu, 2 cuốc, 1 mũi nhọn, 12 bàn mài và 1 mảnh vòng tay... Vết tích gốm cổ tích tụ ở một số di chỉ rất mỏng (chỉ khoảng 0,2 - 0,5 m trong các hố thám sát ở Bến Nôm, Đồi Ba thuộc Phú Cường) minh chứng sự tồn tại, sinh sống của người cổ trong lòng thung lũng Trị An trong khoảng niên đại 4000 - 3000 năm về trước. Ngoài lòng hồ Trị An, di tích đáng chú ý là Phú Lộc, được phát hiện 1986, khi cán bộ Bảo tàng Đồng Nai và Trung tâm KCH - Viện KCHVN điều tra thám sát, ghi nhận tầng văn hóa dày 0,3 - 0,4 m; rộng khoảng 3 ha nằm dọc suối Hội và thu thập tới 4 cuốc lớn, 85 rìu bôn tứ giác hay có vai, 19 đục nguyên hay bể, 5 dao hái, 21 bàn mài với 4 dùng để mài vòng, 3 vòng đeo tay hoàn chỉnh hay bán thành phẩm. Di vật đá Phú Lộc khá giống với di vật Bình Xuân, Đồi Mít và Đồi Xoài, có khả năng thuộc thời kỳ kim khí sớm ở Đồng Nai.- Trong địa phận liên huyện Vĩnh Cửu - Thống Nhất, ngoài các điểm thuộc phạm vi lòng hồ Trị An như đã trình bày (Bể áp Lực, Cây Gáo IIA, Đồi Đất Đỏ, Suối Bưng, Suối Nhàn, Suối Rộp, Suối Tre, Thác Dài, Thác Trau, Vàm Thơ, các di chỉ còn lại thường đều nằm trên sườn đồi gò liên kết đất đỏ basalte - phù sa cổ ven 2 bờ sông Bé - Đồng Nai và các chi lưu, hình thành truyền thống cư trú theo tuyến sông - suối, với những điều kiện thuận lợi hơn cho việc định cư dài ngày của người cổ. Bên cạnh những sưu tập di vật thu được ở Bàu Cá, Bình Đạt (Thiện Tân), Đại An, Gia Tân, Kiệm Tân, Long Ẩn, Lộ Đức II, Núi Cui, Sông Bé, Sông Ray, Xã Lộ 25 (cuốc, rìu bôn, đục, dao bằng đá, rìu đồng, gốm cổ); những di chỉ quan trọng cũng đã được khám phá dọc theo các triền sông Bé – sông Đồng Nai từ vị trí tiếp giáp vùng đất đỏ ở Thống Nhất và thác Trị An về vùng cửa sông Đồng Nai cổ (Hưng Thịnh, Võ Dõng, Sông Mây, Suối Rết, Trảng Quân hay Đồi Le, Đồi Phòng Không...).Di chỉ Hưng Thịnh (10054’54’’B - 107008’56’’Đ) nằm ven rìa Nam đồi gần bờ trái suối Bí trong khu vực đồi rừng đất đỏ basalte phủ trên phù sa cổ là sét trắng pha cát xám, thuộc xã Hưng Lộc (Thống Nhất) cách Dầu Giây 3 km về phía Nam. Di chỉ được ông Nguyễn Văn Tô phát hiện từ 11 - 1977, và qua 2 đợt điều tra của Trung tâm KCH, Bảo tàng Đồng Nai, Viện BTLSVN 1 - 1978, đã ghi nhận 2 khu vực cư trú cổ cách nhau 150m với một khu có diện tích 100 x 20 m = 2000 m2 và tầng văn hóa sâu 0,6 - 0,7 m và khu kia rộng 50 x 30 m = 1500 m2 ít gốm hơn nhưng có thể là nơi làm đồ đá. Di vật thu được 39 tiêu bản gồm: 17 rìu cuốc có vai, 2 mũi nhọn, 1 dao hái, 1 vật hình đĩa, 18 bàn mài, nhiều mảnh tước và gốm vỡ. Ngoài đặc trưng riêng (rìu cuốc 1 vai, gốm pha bột đá), Hưng Thịnh gần gũi với các di tích Đồng Nai khác về kỹ thuật chế tạo và loại hình di vật, có thể tồn tại tương đương với Núi Gốm khoảng 4000 – 3500 năm cách nay.Di chỉ Võ Dõng gần Dốc Mơ và đồi Kiệm Tân, thuộc xã Gia Tân (Thống Nhất) cũng phân bố thành 2 khu vực, cách nhau khoảng 500m dọc theo suối Rừng, do các sinh viên địa chất phát hiện từ 11 - 1983, cán bộ Bảo tàng Đồng Nai và Trung tâm KCH điều tra thám sát 4 -1984 và thu được 6 rìu bôn, 3 đục, 5 bàn mài, 1 chày nghiền, 2 mảnh vòng tay, đặc biệt có cả 1 khuôn đúc rìu bằng sa thạch và 1 rìu đồng cùng kiểu cỡ. Di chỉ có niên đại khoảng cuối TNK II- đầu TNK I tr.CN.Di chỉ Suối Rết cũng là khu vực cư trú rất rộng lớn, trải dọc từ suối Trầu đến ấp Trung Tâm gồm khu Tân Lập và Nông trường Z302, cách thị xã Trảng Bom 9 - 10 km. Phía Bắc Suối Rết, cán bộ Bảo tàng Đồng Nai và Trung tâm KCH qua 2 lần khảo sát 1983 - 1984 phát hiện 1 cuốc, 16 rìu bôn, 4 đục, 1 chày nghiền, 5 bàn mài và nhiều gốm thô. Tại Nam Suối Rết (cách di chỉ trên 2,5 km) trong diện tích cư trú tới 6 ha, các nhà khoa học đào 4 hố thám sát cách nhau 5 – 20 m và phát hiện trong tầng cư trú cổ dày 0,6 - 0,8m sưu tập di vật gồm: 26 rìu bôn nguyên hay phế vật, 3 đục, 5 mảnh tước, 1 hòn ghè, 1 chày nghiền, 24 bàn mài, 2 phác vật khuôn đúc bằng sa thạch, cùng nhiều gốm thô giống với điểm trên.Địa điểm Sông Mây thuộc địa phận xã Hố Nai, có địa hình bề mặt lồi lõm bởi nhiều đá cục basalte, với hệ thống đồi núi thấp bao bọc xung quanh. Đây là khu vực hợp lưu nhiều suối nhỏ đổ về 1 nhánh của sông Đồng Nai là Rạch Đông, cách ngã ba suối Lạnh 1,5 km và cách Bùi Chu 8 km về phía Tây Bắc. Di tích do ông Vũ Đức Thành (Sở thủy lợi Đồng Nai) phát hiện và cán bộ Bảo tàng Đồng Nai, Trung tâm KCH khảo sát 4 - 1983. Dưới lớp phù sa mới là tầng văn hóa cổ sâu 0,7 - 1,5 m bị hủy hoại nhiều do công trình thủy lợi Sông Mây, di vật chỉ còn: 1 cuốc, 8 rìu bôn có chuôi, 1 đục lưỡi thẳng.
Di tích Trảng Quân (Đồi Le) nằm trên sườn đồi thấp ven bờ tả ngạn Đồng Nai, gần đối diện với Dốc Chùa bên bờ hữu ngạn, diện tích khoảng 200 x 50 m = 1000 m2, cách UBND xã Tân An (Vĩnh Cửu) 6 km về phía Đông Nam, do ông Trần Thanh Long phát hiện 4 - 1996 và tặng Bảo tàng Đồng Nai 25 rìu, đục, dao đá, bàn xoa gốm cùng vài mẫu chân đầu hóa thạch. Từ 5 - 1996 đến 3 - 1997, cán bộ Bảo tàng Đồng Nai, Trung tâm KCH, Trường Đại học KHXH và NV Hà Nội đã tiến hành điều tra 3 lần và thu thập thêm: 61 rìu bôn, 37 đục, 3 dao hái, 2 chày nghiền, 97 mảnh tước, 61 đá phế liệu và phế liệu công cụ, 30 bàn mài với đầu sử dụng lõm 1 - 4 mặt, đặc biệt có cả 5 khuôn đúc rìu có họng tra cán với 2 đường trang trí ngang thân (1 chiếc còn đang đục để tạo vật đúc dang dở). Đồ gốm có: 22 bàn xoa hình nấm với núm cầm đặc hay rỗng, 1 thỏi hình trụ, 1 mảng chân hỏa lò. Gốm vỡ Đồi Le rải khắp diện rộng 3 ha rất giống gốm Suối Linh, Bình Đa. Đây là 1 di chỉ - xưởng thủ công quan trọng, với hiện vật hiện có và tư liệu địa tầng sẽ làm cơ sở cho việc làm sáng tỏ vấn đề niên đại của Cầu Sắt, Suối Linh và các di tích ở nửa đầu TNK II tr.CN.
Di tích Đồi Phòng Không nằm trên đỉnh đồi cao gần ngã ba sông Bé - Đồng Nai, thuộc địa phận Lâm trường Hiếu Liêm, Vĩnh Cửu, do cán bộ Trung tâm KCH, Bảo tàng Đồng Nai, Trường đại học tổng hợp TP.HCM phát hiện 3 - 1985. Trên bề mặt đồi đã bị san ủi lớp phủ thực vật, đoàn khảo sát thu nhặt 18 phác vật vòng hình đĩa, 10 phác vật khoan dở và 55 lõi vòng các cỡ. Đây là di tích có tầm quan trọng đặc biệt mang tính chất 1 công xưởng chuyên chế tạo 1 loại sản phẩm duy nhất là vòng đeo tay với quy trình công nghệ sản xuất thủ công bằng kỹ thuật khoan tách lõi từ 1 - 2 mặt tiến bộ lúc đương thời. Công xưởng tiền sử này đã được đoán định niên đại vào khoảng 2500 năm hoặc nửa đầu TNK I tr.CN.
- Trong khu vực thành phố Biên Hòa, khá nhiều di vật tiền sử được sưu tầm liên quan đến các địa điểm Lò Gạch, Núi Đất, Núi Gò Giấy, Tam Hiệp, An Hưng, Bến Gỗ... mà có thể một số năm trong các sưu tập mang tên Biên Hòa, hiện còn tàng trữ tại các bảo tàng ở Việt Nam và Pháp (Toulouse, Saint Gremain - en - Laye, Cernuschi). Các sưu tập do nhiều người Pháp (D. Grossin, Loesh, F.Bathère, J.Chénieux, L.Malleret, O.Jansé, G. Dumoutier, H. Maspéro, Beylié...) sưu tầm ở Biên Hòa còn rất nhiều: Ở Hà Nội có 129 rìu bôn, 1 mai, 13 đục, 1 dùi, 1 dao, 2 vòng, 1 bàn mài; Ở TP. HCM có 56 cuốc các loại, được coi có hình loại gần gũi với Núi Gốm, thuộc sơ kỳ thời đại đồng thau, khoảng 3500 năm cách nay. Các di chỉ được khảo cứu tốt nhất ở Biên Hòa là Bình Đa, Gò Me và Cù Lao Phố.
Cù Lao Phố là tên gọi 1 cù lao lớn giữa sông Đồng Nai ở Tây Nam Biên Hòa, trước thuộc tổng Phước Vĩnh thượng, nay là xã Hiệp Hòa, được biết đến từ khi L. Malleret chuyển cho Bảo tàng Sài Gòn 2 rìu đá do nhân dân ấp Bình Hòa tặng ông. Sau 1975, cán bộ Bảo tàng Đồng Nai và Trung tâm KCH nhiều lần điều tra, thẩm định các phát hiện của nhân dân trên Cù Lao Phố, thu thêm 2 rìu đá và ít gốm thô. Đặc biệt, 10 - 1984, nhân dân ấp Nhị Hòa đào đất trồng cây phát hiện 1 vò gốm đáy tròn có chứa 3 rìu đồng lưỡi rộng có trang trí 1 - 2 chỉ ngang thân. Cả 3 rìu đồng được Nguyễn Duy Tỳ (TTKCH) phân tích tại Phòng Kỹ thuật KCH, Viện sử học thuộc Viện hàn lâm khoa học Adecbaigian cho kết quả: Cu+Sn; Chúng mang đặc trưng rìu Đồng Nai, nhưng chiều rộng bản lưỡi là nét độc đáo của riêng Cù Lao Phố, niên đại có thể giữa TNK I tr.CN ?
Di tích Gò Me (10057’00’B - 106050’33’’Đ) thuộc phường Thống Nhất, cách Biên Hòa 1 km về phía Đông Nam, do ông Trần Hiếu Thuận phát hiện cuối 1981. Trong các đợt điều tra 1982 - 1984 của Bảo tàng Đồng Nai, Trung tâm KCH, Trường đại học tổng hợp TP. HCM, các nhà khoa học đào 5 hố thám sát và trong tầng văn hóa dày 0,4 - 0,5 m, họ thu được 55 đồ đá, gồm: 15 rìu bôn, 4 đục, 22 bàn mài, 11 mảnh tước, 2 mảnh vòng tay, 1 mảnh đàn đá giống Bình Đa (qui mô: 10x11x2,2cm). Đồ gốm có 1 dọi se sợi, 4 đạn, 1 chén rót đồng đáy tròn rất giống chén rót đồng Ban Nadi (Thái Lan) và 200 mảnh đồ đựng (có cả chân của mâm bồng). Gò Me được coi là di chỉ cư trú - xưởng thủ công gần gũi về loại hình di tích - di vật với các làng cổ Bình Đa và Dốc Chùa, với niên đại khoảng nửa cuối TNK II tr.CN.
Di chỉ Bình Đa (10056’06’’B - 106051’30’’Đ) nằm trên quả đồi thấp trải dài theo hướng Đông Tây, thuộc phường An Bình, cách Biên Hòa 4 km về Đông Nam, là 1 trong những di chỉ tiền sử phát hiện đầu tiên ở Nam Bộ. Ngay từ cuối thế kỷ XIX, E.T. Hamy cho biết Bình Đa thuộc tổng Phước Vĩnh Thượng là 1 trong 5 địa điểm mà J. Chénieux thu thập di vật và từ 1887 - 1914 đã tặng Bảo tàng L’Homme ở Paris 54 di vật đá. Di chỉ tái phát hiện 9 - 1979 khi Công ty vận tải Đồng Nai xây dựng bãi xe ở đây và sau đó, cán bộ Bảo tàng Đồng Nai và Trung tâm KCH 2 lần khai quật (12 - 1979 và 4 - 1993) với tổng diện tích 234 m2. Đây là một trong những khu cư trú cổ có qui mô lớn nhất và giàu di vật nhất trong toàn vùng châu thổ Đồng Nai xưa. Trong 2 tầng tích tụ liên tục hàng ngàn năm sâu tới 2,8 - 2,9 m; các nhà khoa học phát hiện hàng trăm cụm than tro - gốm - xương thú cháy dở - tàn tích của bếp lửa nguyên thủy, và thu thập hàng tấn vật dụng đủ loại chất liệu và công dụng.
Trong 1670 đồ đá có: 15 cuốc, 762 rìu bôn, 114 đục, 1 nạo, 7 dao, 1 binh khí mũi nhọn, 92 chày nghiền hạt, 251 bàn mài với 1 dùng mài vòng. Và 23 hiện vật chưa xác định. 7 mảnh vòng tay và phác vật, 295 mảnh tước và phế liệu, đặc biệt có tới 51 thanh đoạn đàn đá lần đầutiên khám phá trong tầng văn hóa cổ xưa. Vật dụng đất nung gồm: 49 đạn, 101 gốm ghè tròn,85 mảnh chân lò, 2 thỏi gốm có lỗ, 3 mảnh nồi, 1 bình hình con tiện, 2 hũ đáy bằng, 4 đĩa nông lòng cùng hàng trăm ngàn mảnh của đồ đựng - nung nấu - ăn uống, với không ít mảnh có gờ vai, văn khắc vạch hay tô màu đặc sắc của Bình Đa. Ngoài 1 đốt xương sống thú có khoan lỗ xõ dây đeo, tàn tích thức ăn đạm trong “thực đơn” cổ Bình Đa thật phong phú. Chỉ trong hố đào nhỏ nhất (60m2), các nhà khảo cổ đã thu về 1,5 kg răng hàm và 16,5 kg di cốt thuộc nhiều loài thú sống ở nhiều môi trường sinh thái khác nhau như: Bibos cf.gaurus - min; Bubalus bubalis - trâu rừng; Bos banteng - bò rừng; Sus scrofa - heo rừng; Muliacus muntiac - hoẵng; Cervus sp - hươu; rusa unicolor - nai; Elephan sp - voi; Rhinocetidae sp - tê giác; Chelonia sp - rùa.
Đến nay, di tích và di vật Bình Đa đã là cơ sở cho hàng loạt công trình công bố trong và ngoài nước, thu hút sự quan tâm của giới khoa học nhiều nơi trên thế giới đối với Đồng Nai. Nhìn chung, với số lượng hiện vật đồ sộ của cả 2 lần khai quật, làng cổ Bình Đa, bên cạnh Dốc Chùa ở hữu ngạn sông Đồng Nai và Cái Vạn - Bưng Bạc nơi cửa sông cận biển, có đủ tư cách của 1 “thị trấn”  trung tâm lưu vực châu thổ sông Đồng Nai thời đại kim khí. Đây là 1 khu di chỉ cư trú - xưởng chế tác đá phục vụ nhu cầu của nông nghiệp và các ngành nghề thủ công cổ truyền có quá trình phát triển dài lâu, mà nét đặc sắc Bình Đa bên các làng cổ cùng thời trong châu thổ Đồng Nai là những người nông - thợ bản địa đã sáng chế chính tại đây đàn đá. Lần đầu tiên trong 3 thập kỷ tìm kiếm đàn đá, nhờ Bình Đa, người ta vững tin vào niên đại cổ kính của loại hình nhạc cụ Tây nguyên và Nam bộ đặc sắc này và mối quan tâm nghiên cứu không chỉ về kỹ thuật chế tác biểu trưng cho sức sáng tạo nội tại, bàn tay tài hoa của “những người thầy của đá” Đồng Nai; mà còn về đời sống văn hóa của họ - nơi mà dòng nhạc đá “không tiền khoáng hậu” nảy sinh và chảy vào lịch sử. Làng cổ Bình Đa và đàn đá Bình Đa đã có riêng chuyên khảo 1983, với 1 niên đại C14 từ mẫu của 1 bếp lửa nguyên thủy sâu 1,9 m do Viện hàn lâm khoa học Đức giám định ở Berlin cho kết quả: 3180 ± 50 năm cách nay. Làng cổ nổi danh này có thể được khởi lập và duy trì từ nửa cuối TNK II nửa đầu TNK I tr.CN.
- Trong địa phận Long Thành - Nhơn Trạch, các di vật bằng đá, đồng hay gốm vỡ cũng thường được phát hiện dọc đôi bờ sông lớn Đồng Nai và các suối nhánh ở tả hay hữu ngạn từ Long Tân, Long An, An Hòa như Bàu Cạn, Bến Gỗ, Xã Hoàng, Suối Quýt, Phước Nguyên, Phước Mỹ, Phước Long, Phước Tân...
Nổi tiếng nhất trong nhóm này là di chỉ Phước Tân. Làng cổ này nằm trên đồi thấp (25 m) ở hữu ngạn sông nhánh Lá Buông, cùng chung dãy đồi đất đỏ basalte cuối cùng ở Đồng Nai trải theo hướng Đông Bắc - Tây Nam cắt ngang quốc lộ 51 ở cây số 42 - 43 ± 300, thuộc địa phận khu điều trị bệnh phong (Long Thành). Phước Tân được biết tới từ 1969, nhờ các nữ tu dòng Thánh Vincent De Paul làm việc ở khu điều dưỡng thông báo cho H.Fontaine về những “lưỡi tầm sét” lượm ở đây. Liên tục từ 1969 - 1975, H. Fontaine và nhiều công sự đến di chỉ này hơn 30 lần, công bố phát hiện tới 2596 đồ đá cùng 615 mảnh đồ đựng tiêu biểu nhất tìm được ở độ sâu 0,2 - 0,5 m trên nền lớp đất đỏ hoặc nâu đỏ tiếp giáp nền đá basalte. Di vật Phước Tân rất đa dạng, bao gồm: 1960 rìu bôn hoàn chỉnh hay phác - phế vật với hàng chục kiểu cỡ khác nhau, 176 đục, 6 dao lớn và 14 dao hái, 24 mũi lao đầu nhọn, 2 chày nghiền hay hòn ghè, 8 bàn nghiền hạt, 258 bàn mài, 4 bàn xoa, 2 mảnh vòng đĩa lớn, 1 thẻ đeo dạng bùa. Ngoài 2 đạn tròn, gốm Phước Tân thường là mảnh của nồi đáy tròn, bát tô, bát bồng và cốc có đế loe. Bộ sưu tập đồ sộ của Phước Tân được tăng thêm 2.604 tiêu bản, nhờ các cuộc phúc tra của Bảo tàng Đồng Nai và Trung tâm KCH sau năm 1975, chưa kể tới hàng chục “lưỡi tầm sét” nhân dân Phước Tân còn giữ lại khi đào hố sâu 3m lấy đất ngăn nước sông Buông và 1 hiện vật đồng tròn do 1 nữ sinh phát hiện nằm úp ở độ sâu 10 - 12 cm cách mặt ruộng. Trong những công bố ban đầu, H. Fontaine xếp di chỉ này vào thời Đá mới, về sau khi xét nó trong khung cảnh Nam Bộ và khu vực, ông sử dụng tên Phước Tân mệnh danh nhóm di tích ở Biên Hòa vào chung 1 văn hóa mà ít nhất có 1 bộ phận lớn của văn hóa này đã ở vào thời đại Đồng thau, với niên đại 3500 - 3000 về trước, trong bối cảnh đồ đồng thau bắt đầu phát triển ở miền Nam Việt Nam từ TNK II tr.CN. Nhìn chung, niên đại và thời đại của Phước Tân do H. Fontaine giám định được nhiều người thừa nhận, nhưng tên gọi “Văn hóa Phước Tân” thì một số nhà nghiên cứu cho là chưa thật tiêu biểu như các tên gọi “Văn hóa Cù Lao Rùa”, “Văn hóa Bến Đò”, “Văn hóa Dốc Chùa” hay rộng hơn là “Văn hóa Đồng Nai”...

Thời đại kim khí ở Đồng Nai - Phần IV

Đây là giai đoạn phát triển cao nhất của Phức hệ văn hóa tiền sử Đồng Nai, với những thành tựu giao lưu kinh tế - văn hóa mới và những tiến bộ kỹ thuật tiên tiến liên quan đến phát minh thuật rèn sắt và ứng dụng thành phẩm của kỹ nghệ này trong thực tiễn sản xuất - chiến đấu truyền thống, khởi đầu từ giữa TNK I tr.CN. Trong địa phận tỉnh Đồng Nai, các di tích tiêu biểu của thời kỳ lịch sử sôi động này tập trung quanh vùng đất đỏ basalte Xuân Lộc - Long Khánh cổ kính, nơi “thế giới của các nón núi lửa” thời Pleistocene. Có thể coi đây chính là vùng phát sinh và quần cư quan trọng và liên tục nhất của người cổ Đồng Nai, vùng động lực của truyền thống văn hóa - kỹ thuật thời kim khí cũng chính là 1 khu kinh tế dân cư trung tâm tinh thần ở thời điểm mà cộng đồng người nguyên thủy Đồng Nai khởi dựng cuộc sống văn minh với cấu trúc quyền lực mang hình hài Nhà nước sơ khai của riêng họ. Một loại hình di tích đặc trưng của thời Sắt sớm ở Đồng Nai là những làng nông nghiệp cổ có những xưởng thủ công chuyên nghiệp đúc đồng - rèn sắt - sáng chế và bán buôn đồ trang sức bằng đá quý - mã não - thủy tinh hay vàng bạc... và, bên những nghĩa địa cổ truyền cạnh nơi cư trú, đã hình thành trên các sườn đồi đất đỏ ven suối nhỏ những nghĩa địa riêng biệt chôn người chết trong các quan tài bằng chum vò gốm.Di tích Suối Chồn nằm trên sườn đồi basalte nâu đỏ ven bờ Tây suối Háp, thuộc ấp Bảo Vinh B, xã Xuân Bình (Xuân Lộc), cách Xuân Lộc 4 km và cụm di tích Cầu Sắt - Đồi Mít - Đồi Xoài chỉ 3 - 5 km về phía Đông Bắc. Di tích do ông Đặng Bá Tước phát hiện từ 1976, sau đó, cán bộ Bảo tàng Đồng Nai, Trung tâm KCH, Viện bảo tàng LSVN, Viện KCH, cùng các nhà khảo cổ Nhật Bản đã nhiều lần điều tra thám sát (4 m2) và khai quật 2 lần (4 - 1978 và 4 - 1979) với diện tích 3 hố = 133 m2. Dấu tích văn hóa cổ ở Suối Chồn trải rộng tới 40.000 m2. Các nhà khoa học phát hiện một khu cư trú cổ với lớp vật chất sinh hoạt dày 0,3 - 1,4 m và 1 khu nghĩa địa riêng biệt với 9 mộ chum vò gốm chứa đồ tùy táng bên trong. Di vật nơi ở và khu mộ thu được bao gồm các sưu tập vật phẩm nội địa và ngoại nhập phong phú. Đồ đá có: 1 cuốc, 80 rìu bôn, 5 đục, 14 bàn mài công cụ hay vòng trang sức, 6 dao gặt, 1 chày nghiền, 1 bùa đeo, 10 khuôn sa thạch dùng đúc rìu, giáo, dùi, hoa tai, lục lạc hay chuông nhỏ, 13 mảnh vòng tay, 2 khuyên tai và nhiều hạt chuỗi. Đồ đất nung có: 14 dọi se sợi, 2 đạn, 2 quả cân cùng 9 chum vò làm quan tài và 8 nồi tùy táng. Đồ thủy tinh có: 1 vòng tay và 2 khuyên tai có 3 mấu xanh lục. Đồ kim loại có: 5 rìu đồng, 5 kiếm sắt, 1 liềm và 1 thuổng sắt (1 mẫu rìu đồng được phân tích hóa - quang phổ ở Viện địa chất Hà Nội cho biết thành phần hợp kim là: Cu+Pb+Sn). Di tích Suối Chồn, gồm cả di tích cư trú và mộ táng, được xác định tương đương với các “Cánh đồng chum” Phú Hòa - Dầu Giây - Suối Đá, vào khoảng nửa sau TNK I tr.CN. Tuy nhiên, làng cổ Suối Chồn từ di chỉ cư trú đến mộ táng trong cùng một kết cấu địa tầng cần được hiểu giống như là liên tục về thời gian, là nội sinh trong kết cấu văn hóa vật chất, mà chính trong nhiều khu vực ở quả đồi ven bờ Suối Háp này, vết tích của những ngôi mộ đất truyền thống với tùy táng phẩm rìu đồng vẫn còn tồn tại trong chiều hướng xuất hiện và lấn át của mộ vò và các loại hình chất liệu trang sức tân kỳ (đá quý, mã não, thủy tinh màu) giống như là những sắc tố khác thường gia nhập vào và cấu thành bản sắc văn hóa sơ sử Đồng Nai thời sơ Sắt.Di chỉ Dầu Giây mang danh dòng suối nhỏ tiếp giáp 2 huyện Thống Nhất - Xuân Lộc, cách TP. HCM khoảng 70 km về hướng Đông – Đông Bắc, do E. Saurin phát hiện 10 - 1965. Đây cũng là làng cổ gồm khu cư trú với tầng văn hóa mỏng (10 - 20 cm) và đất đồi laterite. Tại đây, E. Saurin phát hiện 2 mộ chum không nắp, bên trong chứa 1 mảnh xương, 1 mảnh bàn mài, 1 đá thạch anh và gốm vỡ của bình, nồi cùng ít than củi. Di vật thu thập gồm: 2 dao sắt với 2 cạnh lưỡi sắc, 1 mảnh tước đá, 1 chày nghiền, 1 con lăn, 1 đá khắc và nhiều bàn mài rãnh, đặc biệt còn có 3 mảnh khuôn dùng đúc rìu, bông tai và mũi kim. Gốm vỡ ở đây làm bằng sét pha cát, than hoặc bả thực vật băm nhỏ đốt thành tro cùng nhiều khoáng vật như mica, quarto - felspathique..., nung cao, tạo hình và trang trí khá đẹp. Đó là mảnh của nồi miệng loe đáy cong, bình có cổ loe hay có vai, đĩa có đáy phẳng hơi lõm, lọ nhỏ, chum bụng nở... với trang trí văn thừng, khắc vạch tạo những vòng tròn khép kín, sóng nước, khuông nhạc, răng sói, hình sóng hay xoắy ốc... Di tích Dầu Giây có hàm chứa tư liệu địa tầng và sưu tập di vật có giá trị làm sáng tỏ kết cấu văn hóa của giai đoạn hậu kỳ đồng - sơ kỳ sắt Đồng Nai và cùng với khu di chỉ - mộ địa Suối Chồn mang những đặc trưng văn hóa của giai đoạn phát triển cuối cùng của xã hội tiền sử - sơ sử Đồng Nai.Phú Hòa (10053’45’’B - 107015’00’’Đ) là tên 1 ấp cũ, nơi có nghĩa địa quan tài chum gốm cổ chiếm trọn 1 quả đồi đất đỏ basalte cao gần 200 m/mức biển, nhìn xuống thung lũng hẹp bao bọc bởi 2 nhánh của sông Ray, thuộc địa phận ấp Bảo Đỉnh (Xuân Lộc), ven quốc lộ I và cách Xuân Lộc 3 km về hướng Nam. Di tích do nhân dân địa phương phát hiện 3 - 1971, H.Fontaine và Hoàng Thị Thân khảo sát và khai quật “chữa cháy”, xử lý 46 mộ chum. Sau 1975, Hoàng Thị Thân cùng cán bộ Bảo tàng Đồng Nai, Trung tâm KCH đã trở lại đây phúc tra, rồi từ 1977 - 1979, cùng Viện BTLS Việt Nam, Trường đại học tổng hợp Hà Nội điều tra, đào vài hố thám sát và phát hiện thêm 1 vò nhỏ cùng 1 thẻ đeo bằng đá, mảnh vỡ của nhiều chum gốm.Theo các công bố của H.Fontaine (1971 - 1975), các chum cao khoảng 75 cm với bụng rộng 40 - 80 cm, sắp xếp không theo quy luật, có khi thành từng cụm, có khi lại cách quãng, nhưng đều chôn đứng ở những độ sâu khác nhau. Chum làm từ sét pha cát hạt lớn lẫn khoáng vật (quarto - felspathique), áo miết láng màu đỏ hồng, một số có trang trí những hình xoắn ốc tạo thành dải các chữ S nằm nghiêng nối tiếp hoặc cách đều nhau. Đồ tùy táng cực kỳ phong phú, nhưng người xưa sắp xếp không đều trong các chum, thường là đồ trang sức đủ loại, đồ gốm gia dụng hay dụng cụ - công cụ và khí giới bằng sắt. Thống kê tổng quát đồ tùy táng Phú Hòa có tới 1973 di vật định hình, trong đó: Đồ sắt có: 9 cuốc, 2 rìu, 5 dao, 13 liềm, 11 kiếm với 2 cạnh sắc, 1 quả cân. Ngoài 46 chum làm quan tài, đồ đựng gốm có: 7 nồi đáy tròn có băng trang trí hình răng sói ngang bụng, 14 bình cổ thắt dáng tròn hay hình quả trứng, 46 đĩa đáy bằng hay uốn cong có chiếc có 2 lỗ ở vành miệng để buộc dây treo, 4 cốc, 5 đạn tròn hay dẹt, ngoài ra còn có ống chỉ có lỗ xuyên dọc, chân đèn giống Sa Huỳnh, chân đế bát bồng... với nhiều dạng hoa văn trang trí như in dấu vải, chấm dải, miết láng hay khắc vạch tạo các đồ án hình học như các đường cong, gạch ngắn, răng sói, chấm xiên nhỏ, hình chữ nhật, lượn sóng, chữ S nối nhau... Đồ trang sức Phú Hòa đa dạng, gồm: 1 dây chuyền bạc, 22 vòng đeo tay (4 bằng đá mài bóng lộn, 2 vòng thủy tinh xanh sẫm, 15 vòng đồng với 1 vòng kép còn dấu vải mịn trên bản vòng, 19 vòng sắt cấu tạo từ 2 thanh sắt tròn dính chặt nhau, 5 nhẫn sắt, 8 khuyên tai bằng ngọc nephrite màu trắng vân xanh với 2 khuyên tai có hình 2 đầu thú và 6 bông tai có 3 mấu giống trang sức mà thổ dân miền núi Philippines gọi là “Lingling - O”, 2 lục lạc đồng... Hạt chuỗi và cườm chiếm tới 1.800 tiêu bản, trong đó, ngoài 1 hạt bằng vàng, còn lại thuộc 2 nhóm: gần 200 hạt có đường kính hơn 0,5 cm (30% hình cầu, 30% hình trụ tròn, 20% hình thoi, 1 hạt hình quả trám, số còn lại là ngọc dài với 6 - 7 diện tiếp xúc); loại có đường kính nhỏ hơn 0,5 cm thường là thủy tinh nhân tạo các màu đỏ, xanh, cam, vàng, lục, hoặc đá quý như agate, granat, cornaline...)Theo H.Fontaine và Hoàng Thị Thân, di tích Phú Hòa, cùng với Dầu Giây và Hàng Gòn 9 có nguồn gốc từ văn hóa Sa Huỳnh ở ven biển Nam Trung bộ Việt Nam, với kết quả giám định C14  của bà G. Delbrias tại Centre des Fablo Radioactivités ở Gif - sur - Yvette (Pháp) 1 mảnh gốm ở chum M8 và mẫu than gỗ trong các chum M11, M13 là: 2400 ± 140 và 2590 ± 240 năm cách ngày nay.Di tích Hàng Gòn 9 nằm trên một đoạn sườn đồi đất đỏ basalte ven suối Gia Liêu (còn gọi là suối Đá), diện tích khoảng 100 x 50 m = 5.000 m2, được E. Saurin khám phá 1963, thuộc địa phận Nông trường cao su Hàng Gòn, xã Xuân Tân (nay thuộc huyện Long Khánh), cách thị trấn Xuân Lộc 10 km về phía Tây Nam. Lần đầu tiên khảo sát ở đây, E. Saurin chỉ tìm thấy 2 chum gốm có cả khuyên tai 2 đầu thú, 1 kiếm sắt và nhiều gốm vỡ. Sau đó, ông phát hiện thêm 60 chum nữa chôn đứng ở độ sâu 0,2 - 1,5 m với những nắp đậy khác nhau. Trong chum không thấy xương răng người chết và than tro, chỉ có những vật dụng thông thường bị những người mai táng xưa cố ý đập vỡ, hay bẻ gãy trước khi chôn. Phía ngoài mộ chum, đôi khi họ còn chôn kèm theo nhiều bình gốm, đồ sắt hay rìu đá còn nguyên vẹn.Chum làm quan tài thường cao 40 - 60 cm với miệng rộng khoảng 40 cm và chứa tùy táng phẩm gồm: 2 rìu đá, 1 kiếm sắt, 1 cuốc sắt, 3 rìu sắt có họng tra cán và lưỡi dẹt phẳng (thành phần hóa học của đồ sắt được E. Saurin giám định cho thấy, ngoài nguyên tố Sắt là chủ yếu, còn cả dấu vết của chrome, nickel, đồng, maganène, molybdene, lithium). Đồ gốm có các loại: dọi se sợi hình chóp cụt có trang trí hình răng sói quanh rìa, khoanh gốm hình ống, chân đèn, nắp đậy có trang trí những vòng tròn đồng tâm trên mặt, đĩa nông lòng, cốc miệng rộng có trang trí văn sóng nước hay kiểu khuông nhạc hoặc những vạch xiên trên vành mép, bình với các kiểu khác nhau: mép gập vào có trang trí văn chải thưa; mép rộng thành cong; mép vuốt mỏng hông nhỏ đáy trũng; miệng rộng đáy bằng... Hoa văn trang trí đặc trưng của gốm Hàng Gòn là những hình xoắn ốc nằm giữa những băng ngang hẹp.  Đồ trang sức gồm: 1 hạt chuỗi bằng vàng hình tháp dẹt cuộn tròn có 2 đoạn uốn cong làm mấu đeo; Hạt chuỗi bằng cornaline màu đỏ hình đa giác, bằng agate có hình ống tròn hơi phồng, bằng pagodite màu trắng, bằng zircon màu vàng nâu với lỗ xuyên dây, bằng thủy tinh màu xanh đệm có hình đĩa nhiều cạnh, màu đỏ da cam hơi đục có hình ống; 1 bông tai đồng mạ vàng; 1 khuyên tai có 2 đầu thú bằng đá pagodite...Di tích Hàng Gòn 9 có 2 mẫu than gỗ được D.J. Thomaret giám định tại Trung tâm khoa học Monaco và 1 mẫu thực vật do bà G. Delibrias phân tích tại Trung tâm phóng xạ yếu ở Gif - sur - Yvette, cho kết quả niên đại C14: 2300; 2190; 2100 ± 150 năm cách ngày nay. Dù trong các quan tài gốm chưa thấy nhân cốt hoặc than tro, E. Saurin vẫn nghĩ rằng đây là khu mộ chum được hỏa táng giống như phong tục chung của cư dân Indonésien. Ông cho rằng chủ nhân di tích này có quan hệ với tục sử dụng quan tài bằng gốm ở Phú Khương (Quảng Ngãi) hay Dầu Giây, Phú Hòa (Đồng Nai) và có thể quan hệ với tục mai táng trong “Klong” của người Chăm, riêng những đồ trang sức chôn trong các mộ chum này có nguồn gốc ngoại nhập từ nhiều trung tâm văn minh lớn của thế giới. Niên đại khu nghĩa địa này theo tác giả tương đương với văn hóa Đông Sơn, bắt đầu khoảng 500 năm tr.CN và kết thúc ở thế kỷ I sau CN. Theo chúng tôi, di tích nghĩa địa chum Hàng Gòn 9, cùng với Suối Chồn - Dầu Giây - Phú Hòa và những di chỉ mộ chum ở Cần Giờ cho thấy sự lan tỏa và giao thoa văn hóa mạnh mẽ giữa văn hóa Sa Huỳnh và truyền thống thời đại kim khí - thời đại sắt văn hóa Đồng Nai; hình thành một cụm di tích mang đầy đủ tính chất văn hóa của giai đoạn phát triển cuối cùng thời sơ sử ở Đồng Nai và toàn bộ địa vực hạ lưu của hệ thống sông này.Bên cạnh cụm di tích mộ chum vò Suối Chồn - Dầu Giây - Suối Đá - Phú Hòa và những làng nông nghiệp - thủ công thời sơ kỳ Sắt, trong vùng đất đỏ basalte Xuân Lộc - Long Khánh còn hiện diện các công trình di tích văn hóa vật chất - tinh thần Đồng Nai đặc sắc khác nhau: Quần thể di tích kiến trúc mộ bằng đá lớn (cự thạch) Hàng Gòn hay kho tàng chứa khối lượng lớn vũ khí - công cụ - tượng thú quý hiếm trên đỉnh núi lửa cổ Long Giao.Mộ cự thạch Hàng Gòn trước đây thuộc đồn điền cao su Xuân Lộc, xã Xuân Lộc, tổng Lâm Bình thượng, tỉnh Biên Hòa, sau đổi là ấp Hàng Gòn, xã Thới Giao, quận Xuân Lộc, tỉnh Long Khánh; rồi ấp Xuân Thanh, xã Xuân Tân, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai; ngày nay lại là ấp Hàng Gòn, xã Xuân Thanh, huyện Long Khánh. Di tích còn gọi là Mộ cự thạch Xuân Lộc, thoạt đầu được E. Saurin định số 7 trong 10 di tích mà ông khảo cứu ở đồn điền này (Hàng Gòn 7), khi dân sở tại dựng miếu nhỏ thờ “Ông Đá” còn mang tục danh “Mả Ông Đá”. Mộ đá lớn nằm trên vùng đồi đất đỏ basalte, cao độ 256 m so với mực nước biển, cách Suối  Đá nơi gần nhất 800 - 900 m, cách tỉnh lộ 2 khoảng 100 m về phía Tây, cách Xuân Lộc 8 km về phía Nam và cách Biên Hòa 50 km về phía Đông.Đầu năm 1927, khi mở đường liên tỉnh số 2, kỹ sư cầu đường Pháp J. Bouchot nhìn thấy 1 tảng đá nhô thẳng từ dưới gốc cổ thụ lớn và từ giữa tháng 4 năm đó, ông cho khai quật khu vực này và thông báo 3 lần từ 1927 - 1929. Kết quả khám phá công trình “cự thạch” ở đây lập tức thu hút sự quan tâm của nhiều học giả phương Tây, bắt đầu từ vị chủ sự khảo cổ Đông Dương H. Parmentier đến L. Malleret, E. Gaspardone, H. Loofs, E. Saurin, H. Fontaine... cho đến gần đây với nhiều cuộc viếng thăm tìm hiểu của các nhà khảo cổ Nga, Đức, Bungari, Nhật Bản, Mỹ.... Mộ cổ Hàng Gòn được chính quyền Pháp xếp hạng năm 1930, ghi số 38 trong danh mục “Mộ Đông Dương - di tích ở Nam kỳ”. Từ 1981 - 1982, Bảo tàng Đồng Nai và Trung tâm KCH đã nhiều lần điều tra, xây dựng phương án nghiên cứu phục hồi bảo vệ di tích. Năm 1984, mộ đá Hàng Gòn được Bộ văn hóa - thông tin xếp hạng. Đầu năm 1992, Bảo tàng Đồng Nai, Trung tâm KCH tổ chức khai quật lần 2 nhằm cứu vãn bản thân hầm mộ khỏi sụt lún và đổ vỡ, nghiên cứu địa tầng quanh hầm mộ và tôn tạo di tích (Hình 9). Đầu 12 - 1995, khi tiến hành san ủi mặt bằng trong phạm vi giải tỏa của Xí nghiệp khai thác đá (Nông trường cao su Hàng Gòn), những người lái xe ủi húc phải 3 tấm đan bằng đá hoa cương nằm ngang cách mộ đá xưa 60 m về phía Đông Nam. Ông Trần Tử Oai đã cấp báo Bảo tàng Đồng Nai. Sau 3 đợt điều tra khẩn cấp, được phép của UBND tỉnh, Bộ VHTT, Bảo tàng Đồng Nai, Trung tâm KCH khai quật “chữa cháy” từ tháng 1 - 1996. Di tích cự thạch vừa phát hiện liên hệ hữu cơ với di tích mộ Hàng Gòn phát hiện năm 1927 đã xếp hạng cấp Quốc gia. Đoàn công tác đặt tên Hàng Gòn 7B cho kiến trúc cự thạch này.Hàng Gòn 7A (10051’44’’B - 107014’07’’Đ). Theo công bố của J. Bouchot và H. Parmentier, hầm mộ cự thạch có dạng hình hộp chữ nhật, được lắp ghép bởi 6 tấm đan bằng đá hoa cương lớn nằm theo hướng Đông Tây, ở giữa 4 hàng cột gồm: 8 trụ bằng sa thạch hoặc basalte cao tới 2,5 - 3 m với đầu khoét lõm hình yên ngựa, 2 trụ còn lại là 2 tấm đan lớn (7,2 x 1,1 x 0,35 m). Người khai quật đầu tiên lưu ý đến 1 điểm khai thác đá hoa cương giống nguyên liệu làm hầm mộ Hàng Gòn lộ thiên gần Đà Lạt và hình dung những nỗ lực phi thường của người xưa nếu phải vận chuyển những khối đá có khi tới gần 10 tấn đi hàng trăm cây số trong điều kiện địa hình nguyên thủy rất hiểm trở mang về đây dựng mộ. Theo H. Parmentier, thoạt đầu người xưa kiến thiết hầm mộ chìm trong lòng đất, các hàng cột chung quanh được chôn theo nấc hình thang thấp dần theo hướng mộ, có tác dụng đỡ cho dụng cụ mở và đóng nắp hầm mộ mà theo tính nặng gần 7 tấn. Việc nâng và hạ nắp hầm có thể nhờ vào sự trợ lực của hệ thống ròng rọc ở các trụ đá - cây gá lắp trên chỗ lõm hình yên ngựa của trụ chính cùng dây chằng luồn qua phần nhô ra của nắp hầm và lực kéo tập thể, mà theo tác giả chỉ thực hiện mở hầm mộ trong những dịp có nghi lễ mai táng lớn của cộng đồng.
s

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét