ĐC: 436 đường Cách Mạng Tháng 8, phường Quang Vinh, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
3/45 Nguyễn Ái Quốc , KP.8 Biên Hòa, Đồng Nai
HOTLINE : 0917.203099 - 0913.142434
Điện hoa là chiếc cầu nối giúp bạn và đối tác, khách hàng, bạn bè… đến gần nhau hơn. Điều đó sẽ giúp cho mối quan hệ của bạn rộng hơn, công việc kinh doanh thuận lợi hơn. Hãy để dịch vụ điện hoa hân hạnh được thay bạn thiết kế những mẫu hoa chúc mừng đầy ý nghĩa, đầy màu sắc và điện hoa đến nơi mà bạn yêu cầu.
Đối tác của bạn khai trương một chi nhánh mới, bạn bè đến ngày sinh nhật, người thân chuẩn bị tân gia…và cho dù bạn ở nơi đâu, cho dù bạn bận rộn với trăm công nghìn việc. Bạn chỉ cần truy cập vào dịch vụ điện hoa thì những lẵng hoa chúc mừng nhiều màu sắc sáng rực sẽ thay bạn chuyển tải thông điệp yêu thương.
Sản Phẩm: hoa chúc mừng khai trương nhiều màu sắc được tạo thành từ hoa hồng đỏ và đồng tiền vàng. Lẵng hoa tươi hai tầng với hai gam màu vàng và đỏ có ý nghĩa phát tài và thịnh vượng. Tầng trên của lẵng hoa tươi cắm toàn bộ hoa hồng đỏ, dưới chân là một đôn hoa nhỏ bao gồm đồng tiền vàng.
Giá hoa chúc mừng khai trương:
Kệ hoa chúc mừng khai trương: 950,000 VND với kích thước cao 1,0m
Kệ hoa chúc mừng khai trương: 1,680,000 VND với kích thước cao 1,4m
Kệ hoa chúc mừng khai trương: 2,480,000 VND với kích thước cao 2,0m
Một năm 365 ngày, có rất nhiều ngày đặc biệt để chúng ta bày tỏ yêu thương đến người thân, bạn bè, đối tác, khách hàng..... Thật tuyệt vời khi vào ngày sinh nhật nhận được một giỏ hoa chúc mừng sinh nhật, và sẽ rất hạnh phúc khi được người yêu gửi món quà bất ngờ vào ngày 14/2...và càng hạnh phúc hơn khi những bó hoa tươi được thiết kế cẩn thận, tỉ mỉ.
Hiểu được tâm lý khách hàng nên dịch vụ điện hoa luôn trao dồi và sáng tạo ra những giỏ hoa tươi chúc mừng nghệ thuật, sang trọng và đầy ý nghĩa.
Sản phẩm: Bó hoa tươi gồm hoa hồng phấn bó tròn, quý khách có thể chọn hoa khác như hoa hồng đỏ, hồng vàng. Bó hoa tươi chúc mừng này có thể được chọn làm hoa chúc mừng sinh nhật, hoa chúc mừng 8/3,hoa chúc mừng 14/2, hoa chúc mừng ngày của mẹ...
Giá hoa chúc mừng: 1,800,000VND gồm 99 cành hồng .
Giá hoa chúc mừng: 3,800,000 VND gồm 199 cành hồng.
Giá hoa chúc mừng: 19,000,000VND gốm 1000 cành hồng.
Dịch vụ điện hoa: Công ty chúng tôi nhận điện hoa 63/63 tỉnh thành trên toàn quốc và hiện tại chúng tôi đã mở rộng quy mô điện hoa ở các tuyến huyện
shop hoa tươi Biên Hòa , shop hoa biên hòa , shop hoa ở tại biên hòa
|
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT026 1.280.000 VND |
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT027 1.280.000 VND |
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT028 780.000 VND |
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT029 1.480.000 VND |
|
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT030 1.180.000 VND |
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT031 1.280.000 VND |
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM051 1.280.000 VND |
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM050 1.180.000 VND |
|
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM049 1.200.000 VND |
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM048 1.380.000 VND |
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM047 1.000.000 VND |
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM046 980.000 VND |
|
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM045 750.000 VND |
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM044 1.540.000 VND |
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM043 1.250.000 VND |
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM042 950.000 VND |
|
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM041 900.000 VND |
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM040 1.350.000 VND |
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM039 850.000 VND |
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM038 1.350.000 VND |
|
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM037 1.480.000 VND |
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM036 800.000 VND |
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM035 1.180.000 VND |
shop hoa tươi Biên Hòa - DVCM033 1.400.000 VND |
|
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT001 1.580.000 VND |
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT002 980.000 VND |
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT004 780.000 VND |
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT003 2.580.000 VND |
|
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT005 1.080.000 VND |
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT006 1.280.000 VND |
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT007 780.000 VND |
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT008 680.000 VND |
|
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT009 980.000 VND |
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT010 1.180.000 VND |
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT011 1.580.000 VND |
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT012 1.280.000 VND |
|
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT013 1.580.000 VND |
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT014 1.580.000 VND |
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT015 1.780.000 VND |
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT016 1.680.000 VND |
|
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT017 1.280.000 VND |
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT019 980.000 VND |
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT020 1.380.000 VND |
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT021 880.000 VND |
|
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT022 1.380.000 VND |
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT023 980.000 VND |
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT024 880.000 VND |
shop hoa tươi Biên Hòa - SHKT025 1.380.000 VND |
Thời đại kim khí ở Đồng Nai - Phần III
Số lượng
di tích thuộc giai đoạn này được định vị khá nhiều: 91 điểm, theo địa
giới huyện - thành hiện tại, phân bố nhiều nhất ở Vĩnh Cửu - Thống Nhất
(30 điểm) và Xuân Lộc - Long Khánh (18 điểm). Ngoài ra, Biên Hòa (8
điểm), Tân Phú - Định Quán (16 điểm) và Long Thành - Nhơn Trạch (18
điểm).Tuy nhiên, hiện tại việc
khai quật và thám sát trên qui mô lớn còn rất ít. Ở đây, chỉ giới
thiệu những di tích được nghiên cứu tốt nhất và chứa đựng những di tích
văn hóa cổ được xem là đặc sắc nhất thuộc giai đoạn lịch sử quan trọng
này.- Tại vùng đồi đất đỏ
basalte thuộc địa phận Xuân Lộc - Long Khánh, cư dân Đồng Nai thời kỳ
sau Cầu Sắt nối tiếp truyền thống lập làng trên sườn đồi - gò đất đỏ
màu mỡ và thoáng mát ven bờ sông suối có nước chảy quanh năm, với những
khu vực quần cư lớn, qui tụ nhiều di chỉ cư trú, mà dấu tích hiện còn
cho phép xác lập qui mô từng làng không thua diện tích một làng Việt
hiện tại: 1 - 2 ha. Trong khu vực đồn điền cao su Hàng Gòn xưa, E.
Saurin từng khám phá nhiều di chỉ “làng” như vậy chỉ trong phạm vi 10
km2, với những dấu
tích văn hóa cổ thu được khá giống nhau như cuốc, rìu - bôn hay đục tứ
giác hoặc có vai, bàn mài, công cụ có lưỡi hay mũi nhọn, mảnh tước, thẻ
đeo dạng bùa, vòng trang sức đá, đạn gốm hay mảnh nồi vò, cốc, bát
bồng, nắp vung... Quan trọng nhất trong cụm di chỉ này là Núi Gốm (hay
Hàng Gòn 1).Núi Gốm (12004’00’’B - 106051’08’’
Đ) thuộc địa phận lô 72 - Công ty cao su Xuân Lộc, xã Xuân Tân, huyện
Xuân Lộc (nay là huyện Long Khánh), cách thị trấn Xuân Lộc gần 10 km,
do L. Malleret phát hiện khi quả đồi đất đỏ nằm kẹp giữa suối Râm và
suối Sâu này bị san ủi trồng cao su vào năm 1960. Sau đó, E. Saurin
điều tra ghi nhận dấu tích văn hóa cổ trải rộng 350 x 150 m trên sườn
cao 250 m và khai quật khẩn cấp ở trung tâm đồi. Ông thu được 6 rìu tứ
giác hay có vai và phế vật, 1 nạo, 1 công cụ hình nêm, 1 bàn nghiền, 1
chày nghiền, 11 bàn mài có rãnh và 4 khuôn đúc sa thạch để đúc rìu hay
kim găm có vòng chuôi. Gốm ở đây được nung cứng chắc, có lớp áo mịn màu
nâu đỏ, thường là mảnh của nồi, đĩa, bát, tô. Tác giả so sánh di vật
Núi Gốm với Mlu Prey, Somrong Sen (Campuchia), Trấn Ninh (Lào), Sa
Huỳnh và Đông Sơn, và đem phân tích một mẫu gốm trộn bã thực vật cháy
thành than ở Trung tâm nghiên cứu hạt nhân Saclay thu kết quả niên đại:
3950 ± 250 năm cách nay. Sau 1975, cán bộ Bảo tàng Đồng Nai, Trung
tâm KCH - Viện KCHVN và một số nhà khoa học Nhật Bản đã phúc tra nhiều
lần Núi Gốm, thu thêm nhiều cổ vật đá (3 khuôn đúc rìu nguyên và bán
thành phẩm, 8 rìu bôn tứ giác hay có vai, 1 đục, 1 dao, 2 bàn mài
rãnh), 1 chì lưới bằng đất nung, 4 đạn gốm cùng một số mảnh của vò,
bình hay đĩa nhỏ miệng loe rộng. Một số nhà nghiên cứu cho niên đại của
Hàng Gòn 1 chỉ khoảng 3.000 năm khi so sánh khuôn đúc và gốm ở đây với
Dầu Giây 1 hay Hàng Gòn 9; nhiều người khác lại ủng hộ niên đại cổ
kính mà E. Saurin đã khẳng định.Ngoài
cụm di tích Hàng Gòn, trong vùng Xuân Lộc - Long Khánh còn ghi nhận
cụm di chỉ xung quanh Cầu Sắt, thuộc địa phận Xuân Phú - Xuân Bình -
Xuân Trường (Bình Xuân, Đồi Mít, Đồi Xoài, Dầu Giây 3, Tân Lập, Lập
Thành, Sông Nhạn...). Phạm vi ở từng điểm di tích có khi dàn trải hầu
khắp sườn đồi dốc thoải ven suối tới 1 - 3 ha (như suối Ba Gió ở Đồi
Xoài, suối Kỳ Đà ở Đồi Mít) nhưng tích tụ không dày. Đáng kể nhất là
tầng văn hóa trong 3 hố thám sát của Bảo tàng Đồng Nai, Trung tâm KCH
và Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam từ 5 - 1979 ở Đồi Mít (Xuân Bình) sâu
tới 1,25 - 1,4m. Ngay trên mặt các di chỉ, các nhà khảo cổ học và bảo
tàng học đã thu lượm được khá nhiều vật dụng bằng đá - gốm quen thuộc
của vùng này: 97 đồ đá với 64 cuốc, 3 đục, 27 bàn mài, 2 chày nghiền, 1
thẻ đeo và nhiều mảnh tước ở Đồi Mít; 65 đồ đá với 52 rìu bôn, 2 lưỡi
mài có vai rất lớn, 5 đục, 4 dao hái và phế vật ở Bình Xuân; 3 rìu vai
và tứ giác, 2 đục, 1 bàn nghiền ở Đồi Xoài; 6 cuốc - rìu bôn ở sông
Nhạn, với nhiều mảnh vỡ của đồ dựng đặc trưng của người Đồng Nai. Niên
đại chung cho toàn nhóm di tích này được ước đoán vào nửa đầu TNK II
tr.CN.- Trong địa phận liên
huyện Tân Phú - Định Quán, các di chỉ khảo cổ phát hiện dọc 2 bờ Đồng
Nai hoặc ven các dòng suối nhỏ (Lu, Rộp, Nhàn, Tre, Bưng...) thuộc
thung lũng ở giữa những vành cung núi đồi đất đỏ basalte thuộc khu vực
lòng hồ thủy điện Trị An nay đã bị ngập nước. Tại 11 địa điểm, các nhà
khảo cổ học và bảo tàng học thu được 21 bôn rìu, 2 cuốc, 1 mũi nhọn, 12
bàn mài và 1 mảnh vòng tay... Vết tích gốm cổ tích tụ ở một số di chỉ
rất mỏng (chỉ khoảng 0,2 - 0,5 m trong các hố thám sát ở Bến Nôm, Đồi
Ba thuộc Phú Cường) minh chứng sự tồn tại, sinh sống của người cổ trong
lòng thung lũng Trị An trong khoảng niên đại 4000 - 3000 năm về trước.
Ngoài lòng hồ Trị An, di tích đáng chú ý là Phú Lộc, được phát hiện
1986, khi cán bộ Bảo tàng Đồng Nai và Trung tâm KCH - Viện KCHVN điều
tra thám sát, ghi nhận tầng văn hóa dày 0,3 - 0,4 m; rộng khoảng 3 ha
nằm dọc suối Hội và thu thập tới 4 cuốc lớn, 85 rìu bôn tứ giác hay có
vai, 19 đục nguyên hay bể, 5 dao hái, 21 bàn mài với 4 dùng để mài
vòng, 3 vòng đeo tay hoàn chỉnh hay bán thành phẩm. Di vật đá Phú Lộc
khá giống với di vật Bình Xuân, Đồi Mít và Đồi Xoài, có khả năng thuộc
thời kỳ kim khí sớm ở Đồng Nai.-
Trong địa phận liên huyện Vĩnh Cửu - Thống Nhất, ngoài các điểm thuộc
phạm vi lòng hồ Trị An như đã trình bày (Bể áp Lực, Cây Gáo IIA, Đồi
Đất Đỏ, Suối Bưng, Suối Nhàn, Suối Rộp, Suối Tre, Thác Dài, Thác Trau,
Vàm Thơ, các di chỉ còn lại thường đều nằm trên sườn đồi gò liên kết
đất đỏ basalte - phù sa cổ ven 2 bờ sông Bé - Đồng Nai và các chi lưu,
hình thành truyền thống cư trú theo tuyến sông - suối, với những điều
kiện thuận lợi hơn cho việc định cư dài ngày của người cổ. Bên cạnh
những sưu tập di vật thu được ở Bàu Cá, Bình Đạt (Thiện Tân), Đại An,
Gia Tân, Kiệm Tân, Long Ẩn, Lộ Đức II, Núi Cui, Sông Bé, Sông Ray, Xã
Lộ 25 (cuốc, rìu bôn, đục, dao bằng đá, rìu đồng, gốm cổ); những di chỉ
quan trọng cũng đã được khám phá dọc theo các triền sông Bé – sông
Đồng Nai từ vị trí tiếp giáp vùng đất đỏ ở Thống Nhất và thác Trị An về
vùng cửa sông Đồng Nai cổ (Hưng Thịnh, Võ Dõng, Sông Mây, Suối Rết,
Trảng Quân hay Đồi Le, Đồi Phòng Không...).Di chỉ Hưng Thịnh (10054’54’’B - 107008’56’’Đ)
nằm ven rìa Nam đồi gần bờ trái suối Bí trong khu vực đồi rừng đất đỏ
basalte phủ trên phù sa cổ là sét trắng pha cát xám, thuộc xã Hưng Lộc
(Thống Nhất) cách Dầu Giây 3 km về phía Nam. Di chỉ được ông Nguyễn Văn
Tô phát hiện từ 11 - 1977, và qua 2 đợt điều tra của Trung tâm KCH,
Bảo tàng Đồng Nai, Viện BTLSVN 1 - 1978, đã ghi nhận 2 khu vực cư trú
cổ cách nhau 150m với một khu có diện tích 100 x 20 m = 2000 m2 và tầng văn hóa sâu 0,6 - 0,7 m và khu kia rộng 50 x 30 m = 1500 m2
ít gốm hơn nhưng có thể là nơi làm đồ đá. Di vật thu được 39 tiêu bản
gồm: 17 rìu cuốc có vai, 2 mũi nhọn, 1 dao hái, 1 vật hình đĩa, 18 bàn
mài, nhiều mảnh tước và gốm vỡ. Ngoài đặc trưng riêng (rìu cuốc 1 vai,
gốm pha bột đá), Hưng Thịnh gần gũi với các di tích Đồng Nai khác về kỹ
thuật chế tạo và loại hình di vật, có thể tồn tại tương đương với Núi
Gốm khoảng 4000 – 3500 năm cách nay.Di
chỉ Võ Dõng gần Dốc Mơ và đồi Kiệm Tân, thuộc xã Gia Tân (Thống Nhất)
cũng phân bố thành 2 khu vực, cách nhau khoảng 500m dọc theo suối Rừng,
do các sinh viên địa chất phát hiện từ 11 - 1983, cán bộ Bảo tàng Đồng
Nai và Trung tâm KCH điều tra thám sát 4 -1984 và thu được 6 rìu bôn, 3
đục, 5 bàn mài, 1 chày nghiền, 2 mảnh vòng tay, đặc biệt có cả 1 khuôn
đúc rìu bằng sa thạch và 1 rìu đồng cùng kiểu cỡ. Di chỉ có niên đại
khoảng cuối TNK II- đầu TNK I tr.CN.Di
chỉ Suối Rết cũng là khu vực cư trú rất rộng lớn, trải dọc từ suối
Trầu đến ấp Trung Tâm gồm khu Tân Lập và Nông trường Z302, cách thị xã
Trảng Bom 9 - 10 km. Phía Bắc Suối Rết, cán bộ Bảo tàng Đồng Nai và
Trung tâm KCH qua 2 lần khảo sát 1983 - 1984 phát hiện 1 cuốc, 16 rìu
bôn, 4 đục, 1 chày nghiền, 5 bàn mài và nhiều gốm thô. Tại Nam Suối Rết
(cách di chỉ trên 2,5 km) trong diện tích cư trú tới 6 ha, các nhà
khoa học đào 4 hố thám sát cách nhau 5 – 20 m và phát hiện trong tầng
cư trú cổ dày 0,6 - 0,8m sưu tập di vật gồm: 26 rìu bôn nguyên hay phế
vật, 3 đục, 5 mảnh tước, 1 hòn ghè, 1 chày nghiền, 24 bàn mài, 2 phác
vật khuôn đúc bằng sa thạch, cùng nhiều gốm thô giống với điểm trên.Địa
điểm Sông Mây thuộc địa phận xã Hố Nai, có địa hình bề mặt lồi lõm bởi
nhiều đá cục basalte, với hệ thống đồi núi thấp bao bọc xung quanh.
Đây là khu vực hợp lưu nhiều suối nhỏ đổ về 1 nhánh của sông Đồng Nai
là Rạch Đông, cách ngã ba suối Lạnh 1,5 km và cách Bùi Chu 8 km về phía
Tây Bắc. Di tích do ông Vũ Đức Thành (Sở thủy lợi Đồng Nai) phát hiện
và cán bộ Bảo tàng Đồng Nai, Trung tâm KCH khảo sát 4 - 1983. Dưới lớp
phù sa mới là tầng văn hóa cổ sâu 0,7 - 1,5 m bị hủy hoại nhiều do công
trình thủy lợi Sông Mây, di vật chỉ còn: 1 cuốc, 8 rìu bôn có chuôi, 1
đục lưỡi thẳng.
Di
tích Trảng Quân (Đồi Le) nằm trên sườn đồi thấp ven bờ tả ngạn Đồng
Nai, gần đối diện với Dốc Chùa bên bờ hữu ngạn, diện tích khoảng 200 x
50 m = 1000 m2, cách UBND xã Tân An (Vĩnh Cửu) 6 km về phía
Đông Nam, do ông Trần Thanh Long phát hiện 4 - 1996 và tặng Bảo tàng
Đồng Nai 25 rìu, đục, dao đá, bàn xoa gốm cùng vài mẫu chân đầu hóa
thạch. Từ 5 - 1996 đến 3 - 1997, cán bộ Bảo tàng Đồng Nai, Trung tâm
KCH, Trường Đại học KHXH và NV Hà Nội đã tiến hành điều tra 3 lần và
thu thập thêm: 61 rìu bôn, 37 đục, 3 dao hái, 2 chày nghiền, 97 mảnh
tước, 61 đá phế liệu và phế liệu công cụ, 30 bàn mài với đầu sử dụng
lõm 1 - 4 mặt, đặc biệt có cả 5 khuôn đúc rìu có họng tra cán với 2
đường trang trí ngang thân (1 chiếc còn đang đục để tạo vật đúc dang
dở). Đồ gốm có: 22 bàn xoa hình nấm với núm cầm đặc hay rỗng, 1 thỏi
hình trụ, 1 mảng chân hỏa lò. Gốm vỡ Đồi Le rải khắp diện rộng 3 ha rất
giống gốm Suối Linh, Bình Đa. Đây là 1 di chỉ - xưởng thủ công quan
trọng, với hiện vật hiện có và tư liệu địa tầng sẽ làm cơ sở cho việc
làm sáng tỏ vấn đề niên đại của Cầu Sắt, Suối Linh và các di tích ở nửa
đầu TNK II tr.CN.
Di
tích Đồi Phòng Không nằm trên đỉnh đồi cao gần ngã ba sông Bé - Đồng
Nai, thuộc địa phận Lâm trường Hiếu Liêm, Vĩnh Cửu, do cán bộ Trung tâm
KCH, Bảo tàng Đồng Nai, Trường đại học tổng hợp TP.HCM phát hiện 3 -
1985. Trên bề mặt đồi đã bị san ủi lớp phủ thực vật, đoàn khảo sát thu
nhặt 18 phác vật vòng hình đĩa, 10 phác vật khoan dở và 55 lõi vòng các
cỡ. Đây là di tích có tầm quan trọng đặc biệt mang tính chất 1 công
xưởng chuyên chế tạo 1 loại sản phẩm duy nhất là vòng đeo tay với quy
trình công nghệ sản xuất thủ công bằng kỹ thuật khoan tách lõi từ 1 - 2
mặt tiến bộ lúc đương thời. Công xưởng tiền sử này đã được đoán định
niên đại vào khoảng 2500 năm hoặc nửa đầu TNK I tr.CN.
-
Trong khu vực thành phố Biên Hòa, khá nhiều di vật tiền sử được sưu tầm
liên quan đến các địa điểm Lò Gạch, Núi Đất, Núi Gò Giấy, Tam Hiệp, An
Hưng, Bến Gỗ... mà có thể một số năm trong các sưu tập mang tên Biên
Hòa, hiện còn tàng trữ tại các bảo tàng ở Việt Nam và Pháp (Toulouse,
Saint Gremain - en - Laye, Cernuschi). Các sưu tập do nhiều người Pháp
(D. Grossin, Loesh, F.Bathère, J.Chénieux, L.Malleret, O.Jansé, G.
Dumoutier, H. Maspéro, Beylié...) sưu tầm ở Biên Hòa còn rất nhiều: Ở
Hà Nội có 129 rìu bôn, 1 mai, 13 đục, 1 dùi, 1 dao, 2 vòng, 1 bàn mài; Ở
TP. HCM có 56 cuốc các loại, được coi có hình loại gần gũi với Núi
Gốm, thuộc sơ kỳ thời đại đồng thau, khoảng 3500 năm cách nay. Các di
chỉ được khảo cứu tốt nhất ở Biên Hòa là Bình Đa, Gò Me và Cù Lao Phố.
Cù Lao
Phố là tên gọi 1 cù lao lớn giữa sông Đồng Nai ở Tây Nam Biên Hòa,
trước thuộc tổng Phước Vĩnh thượng, nay là xã Hiệp Hòa, được biết đến
từ khi L. Malleret chuyển cho Bảo tàng Sài Gòn 2 rìu đá do nhân dân ấp
Bình Hòa tặng ông. Sau 1975, cán bộ Bảo tàng Đồng Nai và Trung tâm KCH
nhiều lần điều tra, thẩm định các phát hiện của nhân dân trên Cù Lao
Phố, thu thêm 2 rìu đá và ít gốm thô. Đặc biệt, 10 - 1984, nhân dân ấp
Nhị Hòa đào đất trồng cây phát hiện 1 vò gốm đáy tròn có chứa 3 rìu
đồng lưỡi rộng có trang trí 1 - 2 chỉ ngang thân. Cả 3 rìu đồng được
Nguyễn Duy Tỳ (TTKCH) phân tích tại Phòng Kỹ thuật KCH, Viện sử học
thuộc Viện hàn lâm khoa học Adecbaigian cho kết quả: Cu+Sn; Chúng mang
đặc trưng rìu Đồng Nai, nhưng chiều rộng bản lưỡi là nét độc đáo của
riêng Cù Lao Phố, niên đại có thể giữa TNK I tr.CN ?
Di tích Gò Me (10057’00’B - 106050’33’’Đ)
thuộc phường Thống Nhất, cách Biên Hòa 1 km về phía Đông Nam, do ông
Trần Hiếu Thuận phát hiện cuối 1981. Trong các đợt điều tra 1982 - 1984
của Bảo tàng Đồng Nai, Trung tâm KCH, Trường đại học tổng hợp TP. HCM,
các nhà khoa học đào 5 hố thám sát và trong tầng văn hóa dày 0,4 - 0,5
m, họ thu được 55 đồ đá, gồm: 15 rìu bôn, 4 đục, 22 bàn mài, 11 mảnh
tước, 2 mảnh vòng tay, 1 mảnh đàn đá giống Bình Đa (qui mô:
10x11x2,2cm). Đồ gốm có 1 dọi se sợi, 4 đạn, 1 chén rót đồng đáy tròn
rất giống chén rót đồng Ban Nadi (Thái Lan) và 200 mảnh đồ đựng (có cả
chân của mâm bồng). Gò Me được coi là di chỉ cư trú - xưởng thủ công gần
gũi về loại hình di tích - di vật với các làng cổ Bình Đa và Dốc Chùa,
với niên đại khoảng nửa cuối TNK II tr.CN.
Di chỉ Bình Đa (10056’06’’B - 106051’30’’Đ)
nằm trên quả đồi thấp trải dài theo hướng Đông Tây, thuộc phường An
Bình, cách Biên Hòa 4 km về Đông Nam, là 1 trong những di chỉ tiền sử
phát hiện đầu tiên ở Nam Bộ. Ngay từ cuối thế kỷ XIX, E.T. Hamy cho biết
Bình Đa thuộc tổng Phước Vĩnh Thượng là 1 trong 5 địa điểm mà J.
Chénieux thu thập di vật và từ 1887 - 1914 đã tặng Bảo tàng L’Homme ở
Paris 54 di vật đá. Di chỉ tái phát hiện 9 - 1979 khi Công ty vận tải
Đồng Nai xây dựng bãi xe ở đây và sau đó, cán bộ Bảo tàng Đồng Nai và
Trung tâm KCH 2 lần khai quật (12 - 1979 và 4 - 1993) với tổng diện tích
234 m2. Đây là một trong những khu cư trú cổ có qui mô lớn
nhất và giàu di vật nhất trong toàn vùng châu thổ Đồng Nai xưa. Trong 2
tầng tích tụ liên tục hàng ngàn năm sâu tới 2,8 - 2,9 m; các nhà khoa
học phát hiện hàng trăm cụm than tro - gốm - xương thú cháy dở - tàn
tích của bếp lửa nguyên thủy, và thu thập hàng tấn vật dụng đủ loại chất
liệu và công dụng.
Trong
1670 đồ đá có: 15 cuốc, 762 rìu bôn, 114 đục, 1 nạo, 7 dao, 1 binh khí
mũi nhọn, 92 chày nghiền hạt, 251 bàn mài với 1 dùng mài vòng. Và 23
hiện vật chưa xác định. 7 mảnh vòng tay và phác vật, 295 mảnh tước và
phế liệu, đặc biệt có tới 51 thanh đoạn đàn đá lần đầutiên khám phá
trong tầng văn hóa cổ xưa. Vật dụng đất nung gồm: 49 đạn, 101 gốm ghè
tròn,85 mảnh chân lò, 2 thỏi gốm có lỗ, 3 mảnh nồi, 1 bình hình con
tiện, 2 hũ đáy bằng, 4 đĩa nông lòng cùng hàng trăm ngàn mảnh của đồ
đựng - nung nấu - ăn uống, với không ít mảnh có gờ vai, văn khắc vạch
hay tô màu đặc sắc của Bình Đa. Ngoài 1 đốt xương sống thú có khoan lỗ
xõ dây đeo, tàn tích thức ăn đạm trong “thực đơn” cổ Bình Đa thật phong
phú. Chỉ trong hố đào nhỏ nhất (60m2), các nhà khảo cổ đã
thu về 1,5 kg răng hàm và 16,5 kg di cốt thuộc nhiều loài thú sống ở
nhiều môi trường sinh thái khác nhau như: Bibos cf.gaurus - min;
Bubalus bubalis - trâu rừng; Bos banteng - bò rừng; Sus scrofa - heo
rừng; Muliacus muntiac - hoẵng; Cervus sp - hươu; rusa unicolor - nai;
Elephan sp - voi; Rhinocetidae sp - tê giác; Chelonia sp - rùa.
Đến nay,
di tích và di vật Bình Đa đã là cơ sở cho hàng loạt công trình công bố
trong và ngoài nước, thu hút sự quan tâm của giới khoa học nhiều nơi
trên thế giới đối với Đồng Nai. Nhìn chung, với số lượng hiện vật
đồ sộ của cả 2 lần khai quật, làng cổ Bình Đa, bên cạnh Dốc Chùa ở hữu
ngạn sông Đồng Nai và Cái Vạn - Bưng Bạc nơi cửa sông cận biển, có đủ
tư cách của 1 “thị trấn” trung tâm lưu vực châu thổ sông Đồng Nai thời
đại kim khí. Đây là 1 khu di chỉ cư trú - xưởng chế tác đá phục
vụ nhu cầu của nông nghiệp và các ngành nghề thủ công cổ truyền có quá
trình phát triển dài lâu, mà nét đặc sắc Bình Đa bên các làng cổ cùng
thời trong châu thổ Đồng Nai là những người nông - thợ bản địa đã sáng
chế chính tại đây đàn đá. Lần đầu tiên trong 3 thập kỷ tìm kiếm đàn đá,
nhờ Bình Đa, người ta vững tin vào niên đại cổ kính của loại hình nhạc
cụ Tây nguyên và Nam bộ đặc sắc này và mối quan tâm nghiên cứu không
chỉ về kỹ thuật chế tác biểu trưng cho sức sáng tạo nội tại, bàn tay
tài hoa của “những người thầy của đá” Đồng Nai; mà còn về đời sống văn
hóa của họ - nơi mà dòng nhạc đá “không tiền khoáng hậu” nảy sinh và
chảy vào lịch sử. Làng cổ Bình Đa và đàn đá Bình Đa đã có riêng chuyên
khảo 1983, với 1 niên đại C14 từ mẫu của 1 bếp lửa nguyên thủy sâu 1,9 m
do Viện hàn lâm khoa học Đức giám định ở Berlin cho kết quả: 3180 ± 50
năm cách nay. Làng cổ nổi danh này có thể được khởi lập và duy trì từ
nửa cuối TNK II nửa đầu TNK I tr.CN.
- Trong
địa phận Long Thành - Nhơn Trạch, các di vật bằng đá, đồng hay gốm vỡ
cũng thường được phát hiện dọc đôi bờ sông lớn Đồng Nai và các suối
nhánh ở tả hay hữu ngạn từ Long Tân, Long An, An Hòa như Bàu Cạn, Bến
Gỗ, Xã Hoàng, Suối Quýt, Phước Nguyên, Phước Mỹ, Phước Long, Phước
Tân...
Nổi
tiếng nhất trong nhóm này là di chỉ Phước Tân. Làng cổ này nằm trên đồi
thấp (25 m) ở hữu ngạn sông nhánh Lá Buông, cùng chung dãy đồi đất đỏ
basalte cuối cùng ở Đồng Nai trải theo hướng Đông Bắc - Tây Nam cắt
ngang quốc lộ 51 ở cây số 42 - 43 ± 300, thuộc địa phận khu điều trị
bệnh phong (Long Thành). Phước Tân được biết tới từ 1969, nhờ các nữ tu
dòng Thánh Vincent De Paul làm việc ở khu điều dưỡng thông báo cho
H.Fontaine về những “lưỡi tầm sét” lượm ở đây. Liên tục từ 1969 - 1975,
H. Fontaine và nhiều công sự đến di chỉ này hơn 30 lần, công bố phát
hiện tới 2596 đồ đá cùng 615 mảnh đồ đựng tiêu biểu nhất tìm được ở độ
sâu 0,2 - 0,5 m trên nền lớp đất đỏ hoặc nâu đỏ tiếp giáp nền đá
basalte. Di vật Phước Tân rất đa dạng, bao gồm: 1960 rìu bôn hoàn chỉnh
hay phác - phế vật với hàng chục kiểu cỡ khác nhau, 176 đục, 6 dao lớn
và 14 dao hái, 24 mũi lao đầu nhọn, 2 chày nghiền hay hòn ghè, 8 bàn
nghiền hạt, 258 bàn mài, 4 bàn xoa, 2 mảnh vòng đĩa lớn, 1 thẻ đeo dạng
bùa. Ngoài 2 đạn tròn, gốm Phước Tân thường là mảnh của nồi đáy tròn,
bát tô, bát bồng và cốc có đế loe. Bộ sưu tập đồ sộ của Phước Tân được
tăng thêm 2.604 tiêu bản, nhờ các cuộc phúc tra của Bảo tàng Đồng Nai
và Trung tâm KCH sau năm 1975, chưa kể tới hàng chục “lưỡi tầm sét”
nhân dân Phước Tân còn giữ lại khi đào hố sâu 3m lấy đất ngăn nước sông
Buông và 1 hiện vật đồng tròn do 1 nữ sinh phát hiện nằm úp ở độ sâu
10 - 12 cm cách mặt ruộng. Trong những công bố ban đầu, H. Fontaine xếp
di chỉ này vào thời Đá mới, về sau khi xét nó trong khung cảnh Nam Bộ
và khu vực, ông sử dụng tên Phước Tân mệnh danh nhóm di tích ở Biên Hòa
vào chung 1 văn hóa mà ít nhất có 1 bộ phận lớn của văn hóa này đã ở
vào thời đại Đồng thau, với niên đại 3500 - 3000 về trước, trong bối
cảnh đồ đồng thau bắt đầu phát triển ở miền Nam Việt Nam từ TNK II
tr.CN. Nhìn chung, niên đại và thời đại của Phước Tân do H. Fontaine
giám định được nhiều người thừa nhận, nhưng tên gọi “Văn hóa Phước Tân”
thì một số nhà nghiên cứu cho là chưa thật tiêu biểu như các tên gọi
“Văn hóa Cù Lao Rùa”, “Văn hóa Bến Đò”, “Văn hóa Dốc Chùa” hay rộng hơn
là “Văn hóa Đồng Nai”...
Thời đại kim khí ở Đồng Nai - Phần IV
Đây là
giai đoạn phát triển cao nhất của Phức hệ văn hóa tiền sử Đồng Nai, với
những thành tựu giao lưu kinh tế - văn hóa mới và những tiến bộ kỹ
thuật tiên tiến liên quan đến phát minh thuật rèn sắt và ứng dụng thành
phẩm của kỹ nghệ này trong thực tiễn sản xuất - chiến đấu truyền
thống, khởi đầu từ giữa TNK I tr.CN. Trong địa phận tỉnh Đồng Nai, các
di tích tiêu biểu của thời kỳ lịch sử sôi động này tập trung quanh vùng
đất đỏ basalte Xuân Lộc - Long Khánh cổ kính, nơi “thế giới của các nón
núi lửa” thời Pleistocene. Có thể coi đây chính là vùng phát sinh và
quần cư quan trọng và liên tục nhất của người cổ Đồng Nai, vùng động lực
của truyền thống văn hóa - kỹ thuật thời kim khí cũng chính là 1 khu
kinh tế dân cư trung tâm tinh thần ở thời điểm mà cộng đồng người nguyên
thủy Đồng Nai khởi dựng cuộc sống văn minh với cấu trúc quyền lực mang
hình hài Nhà nước sơ khai của riêng họ. Một loại hình di tích đặc
trưng của thời Sắt sớm ở Đồng Nai là những làng nông nghiệp cổ có những
xưởng thủ công chuyên nghiệp đúc đồng - rèn sắt - sáng chế và bán buôn
đồ trang sức bằng đá quý - mã não - thủy tinh hay vàng bạc... và,
bên những nghĩa địa cổ truyền cạnh nơi cư trú, đã hình thành trên các
sườn đồi đất đỏ ven suối nhỏ những nghĩa địa riêng biệt chôn người chết
trong các quan tài bằng chum vò gốm.Di
tích Suối Chồn nằm trên sườn đồi basalte nâu đỏ ven bờ Tây suối Háp,
thuộc ấp Bảo Vinh B, xã Xuân Bình (Xuân Lộc), cách Xuân Lộc 4 km và cụm
di tích Cầu Sắt - Đồi Mít - Đồi Xoài chỉ 3 - 5 km về phía Đông Bắc. Di
tích do ông Đặng Bá Tước phát hiện từ 1976, sau đó, cán bộ Bảo tàng
Đồng Nai, Trung tâm KCH, Viện bảo tàng LSVN, Viện KCH, cùng các nhà
khảo cổ Nhật Bản đã nhiều lần điều tra thám sát (4 m2) và khai quật 2 lần (4 - 1978 và 4 - 1979) với diện tích 3 hố = 133 m2. Dấu tích văn hóa cổ ở Suối Chồn trải rộng tới 40.000 m2.
Các nhà khoa học phát hiện một khu cư trú cổ với lớp vật chất sinh
hoạt dày 0,3 - 1,4 m và 1 khu nghĩa địa riêng biệt với 9 mộ chum vò gốm
chứa đồ tùy táng bên trong. Di vật nơi ở và khu mộ thu được bao gồm
các sưu tập vật phẩm nội địa và ngoại nhập phong phú. Đồ đá có: 1 cuốc,
80 rìu bôn, 5 đục, 14 bàn mài công cụ hay vòng trang sức, 6 dao gặt, 1
chày nghiền, 1 bùa đeo, 10 khuôn sa thạch dùng đúc rìu, giáo, dùi, hoa
tai, lục lạc hay chuông nhỏ, 13 mảnh vòng tay, 2 khuyên tai và nhiều
hạt chuỗi. Đồ đất nung có: 14 dọi se sợi, 2 đạn, 2 quả cân cùng 9 chum
vò làm quan tài và 8 nồi tùy táng. Đồ thủy tinh có: 1 vòng tay và 2
khuyên tai có 3 mấu xanh lục. Đồ kim loại có: 5 rìu đồng, 5 kiếm sắt, 1
liềm và 1 thuổng sắt (1 mẫu rìu đồng được phân tích hóa - quang phổ ở
Viện địa chất Hà Nội cho biết thành phần hợp kim là: Cu+Pb+Sn). Di tích
Suối Chồn, gồm cả di tích cư trú và mộ táng, được xác định tương đương
với các “Cánh đồng chum” Phú Hòa - Dầu Giây - Suối Đá, vào khoảng nửa
sau TNK I tr.CN. Tuy nhiên, làng cổ Suối Chồn từ di chỉ cư trú đến mộ
táng trong cùng một kết cấu địa tầng cần được hiểu giống như là liên
tục về thời gian, là nội sinh trong kết cấu văn hóa vật chất, mà chính
trong nhiều khu vực ở quả đồi ven bờ Suối Háp này, vết tích của những
ngôi mộ đất truyền thống với tùy táng phẩm rìu đồng vẫn còn tồn tại
trong chiều hướng xuất hiện và lấn át của mộ vò và các loại hình chất
liệu trang sức tân kỳ (đá quý, mã não, thủy tinh màu) giống như là
những sắc tố khác thường gia nhập vào và cấu thành bản sắc văn hóa sơ
sử Đồng Nai thời sơ Sắt.Di
chỉ Dầu Giây mang danh dòng suối nhỏ tiếp giáp 2 huyện Thống Nhất -
Xuân Lộc, cách TP. HCM khoảng 70 km về hướng Đông – Đông Bắc, do E.
Saurin phát hiện 10 - 1965. Đây cũng là làng cổ gồm khu cư trú với tầng
văn hóa mỏng (10 - 20 cm) và đất đồi laterite. Tại đây, E. Saurin phát
hiện 2 mộ chum không nắp, bên trong chứa 1 mảnh xương, 1 mảnh bàn mài,
1 đá thạch anh và gốm vỡ của bình, nồi cùng ít than củi. Di vật thu
thập gồm: 2 dao sắt với 2 cạnh lưỡi sắc, 1 mảnh tước đá, 1 chày nghiền,
1 con lăn, 1 đá khắc và nhiều bàn mài rãnh, đặc biệt còn có 3 mảnh
khuôn dùng đúc rìu, bông tai và mũi kim. Gốm vỡ ở đây làm bằng sét pha
cát, than hoặc bả thực vật băm nhỏ đốt thành tro cùng nhiều khoáng vật
như mica, quarto - felspathique..., nung cao, tạo hình và trang trí khá
đẹp. Đó là mảnh của nồi miệng loe đáy cong, bình có cổ loe hay có vai,
đĩa có đáy phẳng hơi lõm, lọ nhỏ, chum bụng nở... với trang trí văn
thừng, khắc vạch tạo những vòng tròn khép kín, sóng nước, khuông nhạc,
răng sói, hình sóng hay xoắy ốc... Di tích Dầu Giây có hàm chứa tư liệu
địa tầng và sưu tập di vật có giá trị làm sáng tỏ kết cấu văn hóa của
giai đoạn hậu kỳ đồng - sơ kỳ sắt Đồng Nai và cùng với khu di chỉ - mộ
địa Suối Chồn mang những đặc trưng văn hóa của giai đoạn phát triển
cuối cùng của xã hội tiền sử - sơ sử Đồng Nai.Phú Hòa (10053’45’’B - 107015’00’’Đ)
là tên 1 ấp cũ, nơi có nghĩa địa quan tài chum gốm cổ chiếm trọn 1 quả
đồi đất đỏ basalte cao gần 200 m/mức biển, nhìn xuống thung lũng hẹp
bao bọc bởi 2 nhánh của sông Ray, thuộc địa phận ấp Bảo Đỉnh (Xuân
Lộc), ven quốc lộ I và cách Xuân Lộc 3 km về hướng Nam. Di tích do nhân
dân địa phương phát hiện 3 - 1971, H.Fontaine và Hoàng Thị Thân khảo
sát và khai quật “chữa cháy”, xử lý 46 mộ chum. Sau 1975, Hoàng Thị
Thân cùng cán bộ Bảo tàng Đồng Nai, Trung tâm KCH đã trở lại đây phúc
tra, rồi từ 1977 - 1979, cùng Viện BTLS Việt Nam, Trường đại học tổng
hợp Hà Nội điều tra, đào vài hố thám sát và phát hiện thêm 1 vò nhỏ
cùng 1 thẻ đeo bằng đá, mảnh vỡ của nhiều chum gốm.Theo
các công bố của H.Fontaine (1971 - 1975), các chum cao khoảng 75 cm
với bụng rộng 40 - 80 cm, sắp xếp không theo quy luật, có khi thành
từng cụm, có khi lại cách quãng, nhưng đều chôn đứng ở những độ sâu
khác nhau. Chum làm từ sét pha cát hạt lớn lẫn khoáng vật (quarto -
felspathique), áo miết láng màu đỏ hồng, một số có trang trí những hình
xoắn ốc tạo thành dải các chữ S nằm nghiêng nối tiếp hoặc cách đều
nhau. Đồ tùy táng cực kỳ phong phú, nhưng người xưa sắp xếp không đều
trong các chum, thường là đồ trang sức đủ loại, đồ gốm gia dụng hay
dụng cụ - công cụ và khí giới bằng sắt. Thống kê tổng quát đồ tùy táng
Phú Hòa có tới 1973 di vật định hình, trong đó: Đồ sắt có: 9 cuốc, 2
rìu, 5 dao, 13 liềm, 11 kiếm với 2 cạnh sắc, 1 quả cân. Ngoài 46 chum
làm quan tài, đồ đựng gốm có: 7 nồi đáy tròn có băng trang trí hình
răng sói ngang bụng, 14 bình cổ thắt dáng tròn hay hình quả trứng, 46
đĩa đáy bằng hay uốn cong có chiếc có 2 lỗ ở vành miệng để buộc dây
treo, 4 cốc, 5 đạn tròn hay dẹt, ngoài ra còn có ống chỉ có lỗ xuyên
dọc, chân đèn giống Sa Huỳnh, chân đế bát bồng... với nhiều dạng hoa
văn trang trí như in dấu vải, chấm dải, miết láng hay khắc vạch tạo các
đồ án hình học như các đường cong, gạch ngắn, răng sói, chấm xiên nhỏ,
hình chữ nhật, lượn sóng, chữ S nối nhau... Đồ trang sức Phú Hòa đa
dạng, gồm: 1 dây chuyền bạc, 22 vòng đeo tay (4 bằng đá mài bóng lộn, 2
vòng thủy tinh xanh sẫm, 15 vòng đồng với 1 vòng kép còn dấu vải mịn
trên bản vòng, 19 vòng sắt cấu tạo từ 2 thanh sắt tròn dính chặt nhau, 5
nhẫn sắt, 8 khuyên tai bằng ngọc nephrite màu trắng vân xanh với 2
khuyên tai có hình 2 đầu thú và 6 bông tai có 3 mấu giống trang sức mà
thổ dân miền núi Philippines gọi là “Lingling - O”, 2 lục lạc đồng...
Hạt chuỗi và cườm chiếm tới 1.800 tiêu bản, trong đó, ngoài 1 hạt bằng
vàng, còn lại thuộc 2 nhóm: gần 200 hạt có đường kính hơn 0,5 cm (30%
hình cầu, 30% hình trụ tròn, 20% hình thoi, 1 hạt hình quả trám, số còn
lại là ngọc dài với 6 - 7 diện tiếp xúc); loại có đường kính nhỏ hơn
0,5 cm thường là thủy tinh nhân tạo các màu đỏ, xanh, cam, vàng, lục,
hoặc đá quý như agate, granat, cornaline...)Theo
H.Fontaine và Hoàng Thị Thân, di tích Phú Hòa, cùng với Dầu Giây và
Hàng Gòn 9 có nguồn gốc từ văn hóa Sa Huỳnh ở ven biển Nam Trung bộ
Việt Nam, với kết quả giám định C14 của bà G. Delbrias tại Centre des
Fablo Radioactivités ở Gif - sur - Yvette (Pháp) 1 mảnh gốm ở chum M8
và mẫu than gỗ trong các chum M11, M13 là: 2400 ± 140 và 2590 ± 240 năm
cách ngày nay.Di tích Hàng
Gòn 9 nằm trên một đoạn sườn đồi đất đỏ basalte ven suối Gia Liêu (còn
gọi là suối Đá), diện tích khoảng 100 x 50 m = 5.000 m2,
được E. Saurin khám phá 1963, thuộc địa phận Nông trường cao su Hàng
Gòn, xã Xuân Tân (nay thuộc huyện Long Khánh), cách thị trấn Xuân Lộc
10 km về phía Tây Nam. Lần đầu tiên khảo sát ở đây, E. Saurin chỉ tìm
thấy 2 chum gốm có cả khuyên tai 2 đầu thú, 1 kiếm sắt và nhiều gốm vỡ.
Sau đó, ông phát hiện thêm 60 chum nữa chôn đứng ở độ sâu 0,2 - 1,5 m
với những nắp đậy khác nhau. Trong chum không thấy xương răng người
chết và than tro, chỉ có những vật dụng thông thường bị những người mai
táng xưa cố ý đập vỡ, hay bẻ gãy trước khi chôn. Phía ngoài mộ chum,
đôi khi họ còn chôn kèm theo nhiều bình gốm, đồ sắt hay rìu đá còn
nguyên vẹn.Chum làm quan tài
thường cao 40 - 60 cm với miệng rộng khoảng 40 cm và chứa tùy táng phẩm
gồm: 2 rìu đá, 1 kiếm sắt, 1 cuốc sắt, 3 rìu sắt có họng tra cán và
lưỡi dẹt phẳng (thành phần hóa học của đồ sắt được E. Saurin giám định
cho thấy, ngoài nguyên tố Sắt là chủ yếu, còn cả dấu vết của chrome,
nickel, đồng, maganène, molybdene, lithium). Đồ gốm có các loại: dọi se
sợi hình chóp cụt có trang trí hình răng sói quanh rìa, khoanh gốm
hình ống, chân đèn, nắp đậy có trang trí những vòng tròn đồng tâm trên
mặt, đĩa nông lòng, cốc miệng rộng có trang trí văn sóng nước hay kiểu
khuông nhạc hoặc những vạch xiên trên vành mép, bình với các kiểu khác
nhau: mép gập vào có trang trí văn chải thưa; mép rộng thành cong; mép
vuốt mỏng hông nhỏ đáy trũng; miệng rộng đáy bằng... Hoa văn trang trí
đặc trưng của gốm Hàng Gòn là những hình xoắn ốc nằm giữa những băng
ngang hẹp. Đồ trang sức gồm: 1 hạt chuỗi bằng vàng hình tháp dẹt cuộn
tròn có 2 đoạn uốn cong làm mấu đeo; Hạt chuỗi bằng cornaline màu đỏ
hình đa giác, bằng agate có hình ống tròn hơi phồng, bằng pagodite màu
trắng, bằng zircon màu vàng nâu với lỗ xuyên dây, bằng thủy tinh màu
xanh đệm có hình đĩa nhiều cạnh, màu đỏ da cam hơi đục có hình ống; 1
bông tai đồng mạ vàng; 1 khuyên tai có 2 đầu thú bằng đá pagodite...Di
tích Hàng Gòn 9 có 2 mẫu than gỗ được D.J. Thomaret giám định tại
Trung tâm khoa học Monaco và 1 mẫu thực vật do bà G. Delibrias phân
tích tại Trung tâm phóng xạ yếu ở Gif - sur - Yvette, cho kết quả niên
đại C14: 2300; 2190; 2100 ± 150 năm cách ngày nay. Dù trong các quan
tài gốm chưa thấy nhân cốt hoặc than tro, E. Saurin vẫn nghĩ rằng đây
là khu mộ chum được hỏa táng giống như phong tục chung của cư dân
Indonésien. Ông cho rằng chủ nhân di tích này có quan hệ với tục sử
dụng quan tài bằng gốm ở Phú Khương (Quảng Ngãi) hay Dầu Giây, Phú Hòa
(Đồng Nai) và có thể quan hệ với tục mai táng trong “Klong” của người
Chăm, riêng những đồ trang sức chôn trong các mộ chum này có nguồn gốc
ngoại nhập từ nhiều trung tâm văn minh lớn của thế giới. Niên đại khu
nghĩa địa này theo tác giả tương đương với văn hóa Đông Sơn, bắt đầu
khoảng 500 năm tr.CN và kết thúc ở thế kỷ I sau CN. Theo
chúng tôi, di tích nghĩa địa chum Hàng Gòn 9, cùng với Suối Chồn - Dầu
Giây - Phú Hòa và những di chỉ mộ chum ở Cần Giờ cho thấy sự lan tỏa
và giao thoa văn hóa mạnh mẽ giữa văn hóa Sa Huỳnh và truyền thống thời
đại kim khí - thời đại sắt văn hóa Đồng Nai; hình thành một cụm di
tích mang đầy đủ tính chất văn hóa của giai đoạn phát triển cuối cùng
thời sơ sử ở Đồng Nai và toàn bộ địa vực hạ lưu của hệ thống sông này.Bên
cạnh cụm di tích mộ chum vò Suối Chồn - Dầu Giây - Suối Đá - Phú Hòa
và những làng nông nghiệp - thủ công thời sơ kỳ Sắt, trong vùng đất đỏ
basalte Xuân Lộc - Long Khánh còn hiện diện các công trình di tích văn
hóa vật chất - tinh thần Đồng Nai đặc sắc khác nhau: Quần thể di tích
kiến trúc mộ bằng đá lớn (cự thạch) Hàng Gòn hay kho tàng chứa khối
lượng lớn vũ khí - công cụ - tượng thú quý hiếm trên đỉnh núi lửa cổ
Long Giao.Mộ cự thạch Hàng Gòn
trước đây thuộc đồn điền cao su Xuân Lộc, xã Xuân Lộc, tổng Lâm Bình
thượng, tỉnh Biên Hòa, sau đổi là ấp Hàng Gòn, xã Thới Giao, quận Xuân
Lộc, tỉnh Long Khánh; rồi ấp Xuân Thanh, xã Xuân Tân, huyện Xuân Lộc,
tỉnh Đồng Nai; ngày nay lại là ấp Hàng Gòn, xã Xuân Thanh, huyện Long
Khánh. Di tích còn gọi là Mộ cự thạch Xuân Lộc, thoạt đầu được E.
Saurin định số 7 trong 10 di tích mà ông khảo cứu ở đồn điền này (Hàng
Gòn 7), khi dân sở tại dựng miếu nhỏ thờ “Ông Đá” còn mang tục danh “Mả
Ông Đá”. Mộ đá lớn nằm trên vùng đồi đất đỏ basalte, cao độ 256 m so
với mực nước biển, cách Suối Đá nơi gần nhất 800 - 900 m, cách tỉnh lộ
2 khoảng 100 m về phía Tây, cách Xuân Lộc 8 km về phía Nam và cách
Biên Hòa 50 km về phía Đông.Đầu
năm 1927, khi mở đường liên tỉnh số 2, kỹ sư cầu đường Pháp J. Bouchot
nhìn thấy 1 tảng đá nhô thẳng từ dưới gốc cổ thụ lớn và từ giữa tháng 4
năm đó, ông cho khai quật khu vực này và thông báo 3 lần từ 1927 -
1929. Kết quả khám phá công trình “cự thạch” ở đây lập tức thu hút sự
quan tâm của nhiều học giả phương Tây, bắt đầu từ vị chủ sự khảo cổ
Đông Dương H. Parmentier đến L. Malleret, E. Gaspardone, H. Loofs, E.
Saurin, H. Fontaine... cho đến gần đây với nhiều cuộc viếng thăm tìm
hiểu của các nhà khảo cổ Nga, Đức, Bungari, Nhật Bản, Mỹ.... Mộ cổ Hàng
Gòn được chính quyền Pháp xếp hạng năm 1930, ghi số 38 trong danh mục
“Mộ Đông Dương - di tích ở Nam kỳ”. Từ 1981 - 1982, Bảo tàng Đồng Nai
và Trung tâm KCH đã nhiều lần điều tra, xây dựng phương án nghiên cứu
phục hồi bảo vệ di tích. Năm 1984, mộ đá Hàng Gòn được Bộ văn hóa -
thông tin xếp hạng. Đầu năm 1992, Bảo tàng Đồng Nai, Trung tâm KCH tổ
chức khai quật lần 2 nhằm cứu vãn bản thân hầm mộ khỏi sụt lún và đổ
vỡ, nghiên cứu địa tầng quanh hầm mộ và tôn tạo di tích (Hình 9). Đầu
12 - 1995, khi tiến hành san ủi mặt bằng trong phạm vi giải tỏa của Xí
nghiệp khai thác đá (Nông trường cao su Hàng Gòn), những người lái xe
ủi húc phải 3 tấm đan bằng đá hoa cương nằm ngang cách mộ đá xưa 60 m
về phía Đông Nam. Ông Trần Tử Oai đã cấp báo Bảo tàng Đồng Nai. Sau 3
đợt điều tra khẩn cấp, được phép của UBND tỉnh, Bộ VHTT, Bảo tàng Đồng
Nai, Trung tâm KCH khai quật “chữa cháy” từ tháng 1 - 1996. Di tích cự
thạch vừa phát hiện liên hệ hữu cơ với di tích mộ Hàng Gòn phát hiện
năm 1927 đã xếp hạng cấp Quốc gia. Đoàn công tác đặt tên Hàng Gòn 7B
cho kiến trúc cự thạch này.Hàng Gòn 7A (10051’44’’B - 107014’07’’Đ).
Theo công bố của J. Bouchot và H. Parmentier, hầm mộ cự thạch có dạng
hình hộp chữ nhật, được lắp ghép bởi 6 tấm đan bằng đá hoa cương lớn
nằm theo hướng Đông Tây, ở giữa 4 hàng cột gồm: 8 trụ bằng sa thạch
hoặc basalte cao tới 2,5 - 3 m với đầu khoét lõm hình yên ngựa, 2 trụ
còn lại là 2 tấm đan lớn (7,2 x 1,1 x 0,35 m). Người khai quật đầu tiên
lưu ý đến 1 điểm khai thác đá hoa cương giống nguyên liệu làm hầm mộ
Hàng Gòn lộ thiên gần Đà Lạt và hình dung những nỗ lực phi thường của
người xưa nếu phải vận chuyển những khối đá có khi tới gần 10 tấn đi
hàng trăm cây số trong điều kiện địa hình nguyên thủy rất hiểm trở mang
về đây dựng mộ. Theo H. Parmentier, thoạt đầu người xưa kiến thiết hầm
mộ chìm trong lòng đất, các hàng cột chung quanh được chôn theo nấc
hình thang thấp dần theo hướng mộ, có tác dụng đỡ cho dụng cụ mở và
đóng nắp hầm mộ mà theo tính nặng gần 7 tấn. Việc nâng và hạ nắp hầm có
thể nhờ vào sự trợ lực của hệ thống ròng rọc ở các trụ đá - cây gá lắp
trên chỗ lõm hình yên ngựa của trụ chính cùng dây chằng luồn qua phần
nhô ra của nắp hầm và lực kéo tập thể, mà theo tác giả chỉ thực hiện mở
hầm mộ trong những dịp có nghi lễ mai táng lớn của cộng đồng.
s
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét